Khoa Mỏ > Thảo luận chuyên ngành Mỏ

Các loại khoáng sản, trữ lượng, hiện trạng khai thác và tiềm năng

(1/3) > >>

dom:
Mời anh em tham gia cập nhật thông tin phục vụ cho định hướng trong tương lai.

dom:
TÓM TẮT MỘT SỐ THÔNG TIN LIÊN QUAN ĐẾN TRỮ LƯỢNG, HIỆN TRẠNG KHAI THÁC ĐỐI VỚI CÁC LOẠI KHOÁNG SẢN Ở VN, NỘI DUNG ĐƯỢC TRÌNH BÀY BAO GỒM:

1. CÁC MỎ KHAI THÁC VẬT LIỆU XÂY DỰNG
2. CÁC MỎ KIM LOẠI (NHÔM, ĐỒNG, SẮT, VÀNG, BẠC ... )
3. CÁC MỎ THAN
4. CÁC MỎ PHI KIM
================================================== ============
                    Khái quát chung về vật liệu xây dựng của việt nam

   Hiện nay, ở nước ta có trên 5000 mỏ và điểm khai thác đá vôi, đá granít, đá cẩm thạch, đôlômít, cát, sỏi, đất sét, đất chịu lửa và các sản phẩm mỏ khác dùng làm vật liệu xây dựng hoặc nguyên liệu để chế biến VLXD, 100% các mỏ này dùng phương pháp khai thác lộ thiên.

1. Đá cacbonat của Việt Nam
Theo các tài liệu thăm dò trong nước, tiềm năng đá cacbonat của Việt Nam khá lớn (khoảng 1.754.489 triệu tấn), chủ yếu tập trung ở khu vực Đông Bắc, Tây Bắc và Bắc Trung Bộ, được chia thành 7 vùng nguyên liệu như sau:
+ Thái Nguyên - Lạng Sơn:    B+C1+C2 = 3.038.832 ngàn tấn
+ Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh:   B+C1+C2 = 2.116.483 ngàn tấn
+ Hà Nam - Ninh Bình - Bắc Thanh Hóa:    B+C1+C2 = 1.149.976 ngàn tấn
+ Mỹ Đức - Hòa Bình: Hàng tỷ tấn
+ Nam Thanh Hóa - Bắc Nghệ An:     B+C1+C2 = 540.944 ngàn tấn
+ Quảng Bình - Quảng Trị - TT Huế:     B+C1+C2 = 893.671 ngàn tấn
+ Tà Thiết - Tây Ninh - Hà Tiên:    B+C1+C2 = 895.349 ngàn tấn.

2 Đá xây dựng của Việt Nam

   Đá xây dựng ở Việt Nam phân bố khá rộng rãi trên phạm vi toàn quốc với trữ lượng không lớn nhưng có chất lượng khá tốt. Sự hình thành các mỏ đá có giá trị ở nước ta phụ thuộc vào cấu tạo địa chất của từng vùng, có thể chia thành 3 khu vực: Bắc, Trung và Nam.
   Khu vực miền Bắc: bao gồm các tỉnh từ Thanh Hóa trở ra, tập trung nhiều các loại đá granit, gabro, cẩm thạch, quăczit, cát kết và các đá phun trào,…
   Khu vực miền Trung: từ Nghệ An đến Thuận Hải, xuất hiện nhiều đá granit và bazan; ngoài ra còn có đá silic, cuội kết đa khoáng và các đá phun trào axit.
   Khu vực miền Nam: đá granit xuất hiện không nhiều, chủ yếu tập trung ở Đồng Nai, Tây Ninh,…; đá bazan có ở Sông Bé, Đồng Nai, tuy nhiên thường có lớp đất phủ dày và bị phong hóa.

3 Khái quát chung về các mỏ sét của Việt Nam

Theo các tài liệu thăm dò của Viện Khoa học Vật liệu xây dựng - Bộ Xây dựng thì tổng trữ lượng sét dự báo của Việt Nam khoảng 2,93 tỷ tấn, trong đó cấp A+B+C1 chiếm 1,56 tỷ tấn, tập trung chủ yếu ở 8 khu vực:
+ Đông Bắc: 26,1%
+ Tây Bắc: 9,2%
+ ĐB Sông Hồng: 13,5%
+ Bắc Trung bộ: 38%
+ Nam Trung bộ: 0,7%
+ Tây Nguyên: 0,1%
+ Đông Nam bộ: 6,9%
+ ĐB Sông Cửu Long: 10%
Với 5000 điểm mỏ thì ít nhất cần 5000 kỹ sư khai thác và hầu hết các mỏ này sử dụng phương pháp khai thác lộ thiên

dom:
2. Khoáng sản (quặng) kim loại

   Khoáng sản sắt: có trên 200 khoáng sàng và điểm quặng với trữ lượng 1,1 tỷ tấn (dự báo 1,8 tỷ tấn) trong đó có các khoáng sàng lớn là Thạch Khê, Bản Lũng, Trại Cau, Quy Sa,…
   Khoáng sản đồng: trữ lượng dự báo của khoáng sản đồng Việt Nam là 5,4 triệu tấn. Mỏ đang khai thác là Sin Quyền (Lào Cai) có trữ lượng đã đánh giá là 1,2 triệu tấn.
   NiKen: có một khoáng sàng đang thăm dò chi tiết với trữ lượng dự báo là 150 ngàn tấn ở Bản Phúc (Sơn La).      
   Mangan: đã phát hiện được 34 khoáng sàng và điểm quặng với trữ lượng đã thăm dò là 1,8 triệu tấn (trữ lượng dự báo 7  8 triệu tấn, tập trung nhiều ở Hà Tĩnh, Cao Bằng, Tuyên Quang).
   Crômít: mỏ crômít Cổ Định là mỏ đang được khai thác, trữ lượng 10 triệu tấn. Có khả năng phát hiện thêm các khoáng sàng crômít khác nữa dọc đới đứt gãy sâu Sông Mã. 
   Titan (inmenit): đã phát hiện được gần 70 khoáng sàng và điểm quặng – chủ yếu là sa khoáng ven biển (trong đó có 5 khoáng sàng lớn, 7 trung bình, nằm ở ven biển Hà Tĩnh, Thừa Thiên Huế, Bình Định, Bình Thuận…) với trữ lượng 12,5 triệu tấn  (dự báo 19  22 triệu tấn).
   Bauxit: Việt Nam có 2 loại hình bauxit chính – bauxit Pecmi khoảng 70 khoáng sàng và điểm quặng với 520 triệu tấn  (Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn…) và bauxit laterit Kainozoi với trữ lượng 2,7  3,5 tỷ tấn (dự báo 6,6  7,5 tỷ tấn) phân bố ở các tỉnh Lâm Đồng, Đắc Lắc, Kom Tum, Khánh Hoà,…
   Thiếc: đã phát hiện được hơn 100 khoáng sàng và điểm quặng nằm trong 4 vùng khoáng sản chính là Tam Đảo, Pia Oắc, Quỳ Hợp, và Lâm Đồng với trữ lượng gần 160 ngàn tấn. Ngoài ra một số mỏ đã đi vào giai đoạn kết thúc như Bắc Lũng, Tĩnh Túc,…
   Antimon: đã phát hiện được hơn 50 khoáng sàng và điểm quặng (Mậu Duệ, Làng Vài, Khuốn Pục, Khe Chim, Linh Quang…). Trữ lượng dự báo khoảng 1,5 triệu tấn. 
   Chì kẽm:đã phát hiện khoảng 500 khoáng sàng và điểm quặng (72 khoáng sàng đã được điều tra đánh giá) với trữ lượng 7,8 triệu tấn (trữ lượng dự báo là 21 triệu tấn ). Các vùng khoáng sản điển hình là Chợ Điền, Chợ Đồn, Làng Mích, Tòng Bá,…
   Vonfram: đã phát hiện khoảng 10 khoáng sàng và điểm quặng. Trong đó mỏ Thiên Kế đang được khai thác với trữ lượng đã được đánh giá là 170 ngàn tấn. Khoáng sàng đa kim Núi Pháo (Đại Từ – Thái Nguyên) với trữ lượng các cấp A, B, C1 và C2 đã được duyệt sẽ thu hồi được 227,6 ngàn tấn.
   Vàng: đã phát hiện khoảng 300 khoáng sàng và điểm quặng, trữ lượng ước tính khoảng 150  300 tấn (trữ lượng dự báo là 1,8 ngàn tấn).

dom:
I. Khoáng sản quặng sắt:

Hầu hết quặng sắt được sử dụng để sản xuất gang thép. Trong thời gian gần đây quặng sắt được sử dụng trong một số lĩnh vực khác như sản xuất bột màu, bột mài, cát khuôn đúc, bột dung dịch khoan, phụ gia xi măng,...
I.1- Đặc điểm phân bố khoáng sản sắt Việt Nam
Cho đến nay lãnh thổ Việt Nam đã ghi nhận được hơn 300 mỏ và điểm quặng sắt. Trong đó có 48 mỏ đã được tìm kiếm, thăm dò ở các mức độ khác nhau. Quặng sắt phân bố rất không đồng đều, chủ yếu ở phía Bắc và tập trung chủ yếu ở các khu vực sau:
- Khu vực Đông Bắc Bắc Bộ: phân bố chủ yếu ở Thái Nguyên, Cao Bằng, Hà Giang.
- Khu vực Tây Bắc Bắc Bộ: phân bố chủ yếu ở Yên Bái, Lào Cai.
- Khu vực Bắc Trung Bộ: quặng sắt tập trung ở mỏ sắt Thạch Khê (Hà Tĩnh), Thanh Hoá.
- Khu vực Trung Trung Bộ: quặng sắt gặp ở Mộ Đức (Quảng Ngãi) và rải rác ở một số điểm khác với quy mô không đáng kể.
- Khu vực Nam Trung Bộ và Nam Bộ chưa gặp các mỏ sắt có giá trị công nghiệp.
Các mỏ sắt ở VN bao gồm: Lũng Rầy-Lũng Khoè, Sàng Thần, Nam Lương tỉnh Hà Giang; Bó Lếch, Nguyên Bình tỉnh Cao Bằng; Làng Khuôn, Hưng Khánh tỉnh Yên Bái; Dưỡng Chính tỉnh Hải phòng; Cái Bầu tỉnh Quảng Ninh; Sơn Nguyên tỉnh Phú Yên. , Tòng Bá tỉnh Hà Giang; Nà Lũng tỉnh Cao Bằng; Bản Phắng tỉnh Bắc Cạn; Kíp Tước-Hợp Thành, Vũ Lao tỉnh Lào Cai; Làng Mỵ tỉnh Yên Bái; Bản Chanh, Núi Dương tỉnh Hoà Bình; Tăng Ma tỉnh Phú Thọ; Phúc Ninh tỉnh Tuyên Quang; Gia Chánh tỉnh Lạng Sơn; Thanh Kỳ, Tuyên Quang tỉnh Thanh Hoá; Đức Mộ tỉnh Quảng Ngãi; Na Lương tỉnh Bắc Giang; Khu Đuổm, Phố Giá, Đá Liền, Kỳ Phú, Tương Lai tỉnh Thái Nguyên.
Các mỏ thăm dò tương đối tỷ mỷ bao gồm gồm: Ngườm Chám tỉnh Cao Bằng; Quý Xa tỉnh Lào Cai; Nghĩa Lộ tỉnh Quảng Ninh; Thạch Khê tỉnh Hà Tĩnh; Tiến Bộ, Đồng Hỷ, Đại Khái, Trại Cau tỉnh Thái Nguyên.

Hiện nay, Tổng công ty thép đang khai thác chủ yếu ở mỏ Trại Cau với sản lượng hàng năm gần 200 nghìn tấn phục vụ khu gang thép Thái Nguyên.
Quặng sắt còn được một số doanh nghiệp địa phương khai thác như Công ty thép Cao Bằng thuộc Tổng công ty khoáng sản; Công ty khoáng sản tỉnh Lào Cai khai thác tận thu để xuất khẩu quặng thô sang Trung Quốc.
Tại vùng Tuyên Quang Tổng công ty thép Việt Nam khai thác tận thu để cung cấp cho Công ty gang thép Thái Nguyên.
Các mỏ sắt đều được khai thác bằng phương pháp lộ thiên với công nghệ khai thác còn yếu kém, kết hợp giữa cơ giới và bán cơ giới, giữa quy mô công nghiệp và tận thu.
Tính đến tháng 12 năm 2005, trên phạm vi toàn quốc mới chỉ có 38 mỏ sắt phân bố trong 18 tỉnh đã được tìm kiếm, thăm dò có trữ lượng cấp C2 trở lên. Trong đó, có 27 mỏ có trữ lượng cấp C1, 8 mỏ có trữ lượng cấp A+B. Tổng trữ lượng sắt Việt Nam (cấp A+B+C1+C2) là 956,415 triệu tấn.

Mỏ có trữ lượng lớn nhất Việt Nam là mỏ sắt Thạch Khê với tổng trữ lượng (A+B+C1+C2) là 544,08 triệu tấn. Hầu hết các mỏ có trữ lượng dưới 10 triệu tấn.
Tỉnh có trữ lượng sắt lớn nhất là tỉnh Hà Tĩnh 544,08 triệu tấn, tiếp đến là các tỉnh Lào Cai, Hà Giang, Yên Bái, Cao Bằng, Thái Nguyên.
Tổng trữ lượng sắt cấp cao (A+B) chiếm tỷ lệ ít so với tổng trữ lượng sắt hiện có (14,02%), tập trung chủ yếu ở mỏ Thạch Khê (Hà Tĩnh), mỏ Quý Xa (Lao Cai) và một số mỏ ở tỉnh Thái Nguyên. Trữ lượng sắt cấp C1 chiếm 48,51% tổng trữ lượng sắt, tập trung chủ yếu ở mỏ Thạch Khê (Hà Tĩnh), Quý Xa (Lao Cai), Tiến Bộ (Thái Nguyên).
Các mỏ sắt được phân theo quy mô: nhỏ, trung bình và lớn theo Quyết định số 56/QĐ-BCN ngày 22 tháng 9 năm 2000 của Bộ Công nghiệp cụ thể là:
- Mỏ sắt quy mô lớn có trữ lượng (cấp A+B+C1+C2) lớn hơn 100 triệu tấn.
- Mỏ sắt quy mô trung bình có trữ lượng (cấp A+B+C1+C2) từ 20 triệu tấn đến 100 triệu tấn.
- Mỏ sắt quy mô nhỏ có trữ lượng (cấp A+B+C1+C2) dưới 20 triệu tấn.
Theo quy định nêu trên, đến thời điểm hiện nay trên toàn lãnh thổ nước ta gồm 2 mỏ có quy mô mỏ lớn là mỏ sắt Thạch Khê (Hà Tĩnh), Quý Xa (Lao Cai); 6 mỏ quy mô trung bình: Tòng Bá, Sàng Thần, Nam Lương (Hà Giang), Nà Lũng (Cao Bằng), Làng Mỵ (Yên Bái), Tiến Bộ (Thái Nguyên); còn lại đều thuộc loại mỏ nhỏ. Trong đó, riêng 2 mỏ lớn đã chiếm 69,44% tổng trữ lượng sắt quốc gia

dom:
II.  NICKEN - COBAN
A- Khái quát chung
   Nicken và coban thuộc nhóm VIII của hệ thống tuần hoàn các nguyên tố có số thứ tự 28 và 27, nguyên tử lượng 58,71 và 58,9, trị số clark là 0,008% và 0,003%.
   Hiện đã biết có nhiều khoáng vật của nicken và crom cũng như các khoáng vật có chứa nicken và coban. Tuy nhiên, có giá trị công nghiệp là các khoáng vật sau:
   - Nicken: Các khoáng vật sulfur penladit (Fe, Ni)9S8 (22-42%), pyrotin chứa nicken (0,25-14,22%Ni). Các khoang svật silicat: gacnierit (Ni, Mg)SiO4.nH2O, nepuit 3(Ni, Mg)O.2SiO2.2H2O và nontronit. Trong số khoáng vất oxyt có huđroxyt mangan, sắt, atbolan và psilomelan. Trong asenur có nickelin (cupfeniken, nikelin) NiAs. Các khoáng vật nicken khác chỉ có ý nghĩa thực tiễn trong trường hợp khi chũng đi cùng với khoáng vật nicken có giá trị công nghiệp phổ biến hơn.
   - Coban: moderit CoAs, Smantit (Co, Ni)As3-2, Saflorit(Co, Fe)As2, cobantin CoAsS, glaucodat (Co, Fe)AsS, lineit Co3S4, crintrit (AsO4)3CO3. 8H2O, sferocobantit CoCO3, sigenit (Co, Ni)3S4, catierit CoS2, cacronit CuCO2S4, heterogenit CoO.2Co2O3.6H2O.
 b- Lĩnh vực sử dụng
Nicken là một trong những kim loại quan trọng của nền kỹ thuật hiện đại. Nó được sử dụng trong ngành công nghiệp ôtô, máy kéo, hoá chất, thực phẩm, sản xuất thiết bị y tế, trong kỹ thuật điện, đúc tiền,...phần lớn nicken được dùng dưới dạng hợp kim với các kim loại khác (sắt, crom, coban, đồng, nhôm).
Coban được dùng rộng rãi nhất trong lĩnh vực sản xuất thép và các hợp kim chịu nhiệt, các hợp kim từ tính, các hợp kim cứng, thép gió. Đồng vị phóng xạ Co60 được dùng rộng rãi trong y tế, trong phép dò khuyết tật lúc chiếu sáng vật đúc và các sản phẩm khác bằng kim loại. Ngoài ra coban còn được dùng trong ngành công nghiệp hoá học để làm chất xúc tác, sản xuất men trắng, sơn màu, một số muối của coban được sử dụng trong nông nghiệp.
c- Các kiểu mỏ công nghiệp
- Đối với nicken, giá trị công nghiệp chủ yếu hiện nay là các mỏ và quặng nicken đồng sulfur nội sinh và nicken silicat ngoại sinh. Các mỏ nicken nhiệt dịch và trầm tích không có giá trị công nghiệp quan trọng.   
+ Quặng và các mỏ nicken-đồng sulfur nội sinh có liên quan về nguồn gốc và không gian với các phức hệ đá magma mafic và siêu mafic. Quặng nicken kiểu này có thành phần khoáng vật ổn định. Khoáng vật tạo quặng là penlandit, pyrotin chứa nicken, chalcopyrit, đôi khi milerit và magnetit. Tỷ số hàm lượng Ni:Cu ở một số mỏ từ 2:1 đến 1:2; tỷ số Co:Ni từ 1:20 đến 1:40.
+ Quặng và các mỏ nicken-silicat ngoại sinh: gồm các loại hình vỏ phong hoá cổ Mesozoi sớm của serpentinit, vỏ phong hoá Đệ Tam- Đệ Tứ của serpentinit, các thành tạo trầm tích lục địa ở các vùng phân bố đá serpentinit hoá.
- Đặc trưng của coban là không những nó liên kết chặt chẽ với sắt và nicken, mà còn liên kết với các nguyên tố khác như mangan, đồng, bạc, bismut, vàng, uran. Vì vậy, nhiều mỏ thuộc các kim loại này đều có chứa coban. Quặng hoá coban biểu hiện hầu như trong tất cả các kiểu nguồn gốc từ mỏ magma đến trầm tích và liên quan với các phức hệ magma khác nhau từ siêu mafic đến axit. Các kiểu công nghiệp chủ yếu của quặng coban và mỏ chứa coban gồm:
+ Skorn và các mạch quặng coban-arsen
+ Quặng coban-arsen
+ Quặng và các loại mỏ pyrit-coban
+ Quặng sulfur giàu coban-đồng
+ Các mỏ và quặng nicken-coban-arsen
+ Các mỏ quặng đồng đa kim
+ Quặng nicken-sắt
+ Quặng coban-mangan.

B- Khoáng sản nicken-coban ở Việt Nam
a- Khái quát về đặc điểm phân bố
Trừ các mỏ ở vùng Tạ Khoa (Sơn La) có thành phần nicken, coban là thành phần chính, còn tất cả các vùng khác nicken và coban là các thành phần phụ đi kèm. Khoáng sản nicken, coban gắn bó chặt chẽ với các mỏ đồng, crom với các mức hàm lượng khác nhau. Vì vậy, sự phân bố của khoáng sản nicken, coban trùng với vị trí phân bố các mỏ đồng, crom trên lãnh thổ Việt Nam, trong đó tập trung chủ yếu ở Sơn La (Bản Khoa, Bản Phúc), Thanh Hoá (Cổ Định, Bãi Áng).
b- Mức độ điều tra
Mức độ điều tra khoáng sản nicken, coban được gắn liền với quá trình tìm kiếm, thăm dò các mỏ đồng, crom của đất nước. Tuy nhiên, nicken, coban là những khoáng sản phụ đi kèm nên hầu hết chỉ được dự báo tài nguyên có mức độ tin cậy thấp. Đến nay, chỉ có mỏ Bản Khoa, Bãi Áng là có mức độ điều tra cao và đã tính trữ lượng nicken, coban đến cấp B và C1; các mỏ khác chúng chỉ được dự báo tài nguyên cấp P1.
c- Hiện trạng khai thác, sử dụng
Đến nay, nicken và coban chưa được khai thác công nghiệp ở Việt Nam, nhu cầu Ni-Co ở nước ta hiện nay đều phải nhập từ nước ngoài. So với nhu cầu như hiện nay thì nguồn tài nguyên Ni-Co ở nước ta phong phú và có thể sử dụng được lâu dài. Vấn đề đặt ra là cần nghiên cứu công nghệ khai thác, thu hồi loại khoáng sản này để phục vụ nhu cầu phát triển cảu đất nước.
d- Các loại hình mỏ quặng nicken-coban
Theo đặc điểm nguồn gốc, quặng nicken và coban được chia ra:
- Quặng hoá liên quan với các xâm nhập siêu mafic: gồm hầu hết các mỏ và điểm quặng Ni-Cu-Co như Bản Khoa, Bản Phúc, Đèo Chẹn, Bản Nguồn, Bản Mông,...(vùng Tạ Khoa tỉnh Sơn La);  Suối Củn, Đông Chang (Cao Bằng); Bản Rịn (Thái Nguyên).
- Quặng hoá Cu-Co nguồn gốc nhiệt dịch có trong mỏ đồng Sin Quyền và các điểm quặng vùng Ngòi Hút, An Lương và hàng loạt các điểm quặng khác phân bố trong các đá biến chất hệ tầng Sin Quyền
- Quặng hoá nicken-coban trong vỏ phong hoá các đá siêu mafic có chứa nicken, coban: mỏ sa khoáng cromit Cổ Định, Bãi Áng. Hai mỏ này có tổng tài nguyên Ni, Co lớn nhưng hàm lượng thấp nên rất khó thu hồi.
e- Trữ lượng quặng nicken, coban
Tài nguyên khoáng sản nicken, coban đi kèm trong các mỏ đồng, crom khá lớn và phổ biến rộng rãi. Nếu lấy trữ lượng 30 nghìn tấn trở lên là mỏ lớn thì ở Việt Nam hiện có 3 mỏ lớn gồm: Bản Khoa, Bãi Áng, Cổ Định (xem bảng 1 và 2). Các mỏ khác có quy mô nhỏ và mới chỉ ở mức dự báo tài nguyên có độ tin cậy thấp.
Bảng 1: Trữ lượng nicken ở Việt Nam
TT   Tên mỏ   Trữ lượng (tấn)
        A+B   C1   C2   P1   A+B+C1+C2
Tỉnh Thanh Hoá
1   Bãi Áng-Mậu Lâm      3 262   610 822      614 084
2   Cổ Định            3 008 360   
   Cộng      3 262   610 822   3 008 360   614 084
Tỉnh Sơn La
1   Bản Khoa   10 895   78 729   36 028   4 499   125 652
   Cộng   10 895   78 729   36 028   4 499   125 652
Tổng cộng   10 895   81 991   646 850   3 012 859   739 736

Bảng 2: Trữ lượng coban ở Việt Nam
TT   Tên mỏ   Trữ lượng (tấn)
      A+B   C1   C2   P1   A+B+C1+C2
Tỉnh Thanh Hoá
1   Bãi Áng-Mậu Lâm      711   5 150 128      5 150 839
2   Cổ Định            2 790 990   
   Cộng      711   5 150 128   2 790 990   5 150 839
Tỉnh Sơn La
1   Bản Khoa      445   2 292      2 737
   Cộng      445   2 292      2 737
Tổng cộng      1 156   5 152 420   2 790 990   5 153 576

Như vậy, tới thời điểm hiện nay trữ lượng đã tính được của Ni=739736 tấn, Co= 5153576 tấn  và tập trung chủ yếu ở mỏ sa khoáng Bãi Áng - Mậu Lâm. Ngoài ra, ở mỏ sa khoáng Cổ Định còn có tiềm năng tài nguyên lớn với hơn 3 triệu tấn Ni và gần 3 triệu tấn Co. Hai mỏ Bãi Áng - Mậu Lâm và Cổ Định thuộc tỉnh Thanh Hoá chiếm trữ lượng và tài nguyên Ni, Co chủ yếu của đất nước. Mặc dù hàm lượng Ni, Co ở hai mỏ này không cao, song quy mô lớn và điều kiện khai thác thuận lợi nên cần nghiên cứu công nghệ khai thác và thu hồi đối với loại hình này.

Navigation

[0] Message Index

[#] Next page