• Chào Khách
news Tin tức: Cộng đồng sinh viên trường ĐH Mỏ- Địa Chất - http://www.humg.net news
Trang: [1]   Xuống

Tác giả Chủ đề: Các loại khoáng sản, trữ lượng, hiện trạng khai thác và tiềm năng  (Đọc 21972 lần)

0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.

Offlinedom

  • Newbie
  • *
  • default avatar
  • Bài viết: 43
    • Xem hồ sơ cá nhân
Các loại khoáng sản, trữ lượng, hiện trạng khai thác và tiềm năng
« vào lúc: 02:55:25 pm , Ngày 16, Tháng Tám , năm 2009 »
  •  
Mời anh em tham gia cập nhật thông tin phục vụ cho định hướng trong tương lai.
Logged

Offlinedom

  • Newbie
  • *
  • default avatar
  • Bài viết: 43
    • Xem hồ sơ cá nhân
Re: Các loại khoáng sản, trữ lượng, hiện trạng khai thác và tiềm năng
« Reply #1 vào lúc: 02:59:19 pm , Ngày 16, Tháng Tám , năm 2009 »
  •  
TÓM TẮT MỘT SỐ THÔNG TIN LIÊN QUAN ĐẾN TRỮ LƯỢNG, HIỆN TRẠNG KHAI THÁC ĐỐI VỚI CÁC LOẠI KHOÁNG SẢN Ở VN, NỘI DUNG ĐƯỢC TRÌNH BÀY BAO GỒM:

1. CÁC MỎ KHAI THÁC VẬT LIỆU XÂY DỰNG
2. CÁC MỎ KIM LOẠI (NHÔM, ĐỒNG, SẮT, VÀNG, BẠC ... )
3. CÁC MỎ THAN
4. CÁC MỎ PHI KIM
================================================== ============
                    Khái quát chung về vật liệu xây dựng của việt nam

   Hiện nay, ở nước ta có trên 5000 mỏ và điểm khai thác đá vôi, đá granít, đá cẩm thạch, đôlômít, cát, sỏi, đất sét, đất chịu lửa và các sản phẩm mỏ khác dùng làm vật liệu xây dựng hoặc nguyên liệu để chế biến VLXD, 100% các mỏ này dùng phương pháp khai thác lộ thiên.

1. Đá cacbonat của Việt Nam
Theo các tài liệu thăm dò trong nước, tiềm năng đá cacbonat của Việt Nam khá lớn (khoảng 1.754.489 triệu tấn), chủ yếu tập trung ở khu vực Đông Bắc, Tây Bắc và Bắc Trung Bộ, được chia thành 7 vùng nguyên liệu như sau:
+ Thái Nguyên - Lạng Sơn:    B+C1+C2 = 3.038.832 ngàn tấn
+ Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh:   B+C1+C2 = 2.116.483 ngàn tấn
+ Hà Nam - Ninh Bình - Bắc Thanh Hóa:    B+C1+C2 = 1.149.976 ngàn tấn
+ Mỹ Đức - Hòa Bình: Hàng tỷ tấn
+ Nam Thanh Hóa - Bắc Nghệ An:     B+C1+C2 = 540.944 ngàn tấn
+ Quảng Bình - Quảng Trị - TT Huế:     B+C1+C2 = 893.671 ngàn tấn
+ Tà Thiết - Tây Ninh - Hà Tiên:    B+C1+C2 = 895.349 ngàn tấn.

2 Đá xây dựng của Việt Nam

   Đá xây dựng ở Việt Nam phân bố khá rộng rãi trên phạm vi toàn quốc với trữ lượng không lớn nhưng có chất lượng khá tốt. Sự hình thành các mỏ đá có giá trị ở nước ta phụ thuộc vào cấu tạo địa chất của từng vùng, có thể chia thành 3 khu vực: Bắc, Trung và Nam.
   Khu vực miền Bắc: bao gồm các tỉnh từ Thanh Hóa trở ra, tập trung nhiều các loại đá granit, gabro, cẩm thạch, quăczit, cát kết và các đá phun trào,…
   Khu vực miền Trung: từ Nghệ An đến Thuận Hải, xuất hiện nhiều đá granit và bazan; ngoài ra còn có đá silic, cuội kết đa khoáng và các đá phun trào axit.
   Khu vực miền Nam: đá granit xuất hiện không nhiều, chủ yếu tập trung ở Đồng Nai, Tây Ninh,…; đá bazan có ở Sông Bé, Đồng Nai, tuy nhiên thường có lớp đất phủ dày và bị phong hóa.

3 Khái quát chung về các mỏ sét của Việt Nam

Theo các tài liệu thăm dò của Viện Khoa học Vật liệu xây dựng - Bộ Xây dựng thì tổng trữ lượng sét dự báo của Việt Nam khoảng 2,93 tỷ tấn, trong đó cấp A+B+C1 chiếm 1,56 tỷ tấn, tập trung chủ yếu ở 8 khu vực:
+ Đông Bắc: 26,1%
+ Tây Bắc: 9,2%
+ ĐB Sông Hồng: 13,5%
+ Bắc Trung bộ: 38%
+ Nam Trung bộ: 0,7%
+ Tây Nguyên: 0,1%
+ Đông Nam bộ: 6,9%
+ ĐB Sông Cửu Long: 10%
Với 5000 điểm mỏ thì ít nhất cần 5000 kỹ sư khai thác và hầu hết các mỏ này sử dụng phương pháp khai thác lộ thiên
Logged

Offlinedom

  • Newbie
  • *
  • default avatar
  • Bài viết: 43
    • Xem hồ sơ cá nhân
Re: Các loại khoáng sản, trữ lượng, hiện trạng khai thác và tiềm năng
« Reply #2 vào lúc: 03:09:14 pm , Ngày 16, Tháng Tám , năm 2009 »
  •  
2. Khoáng sản (quặng) kim loại

   Khoáng sản sắt: có trên 200 khoáng sàng và điểm quặng với trữ lượng 1,1 tỷ tấn (dự báo 1,8 tỷ tấn) trong đó có các khoáng sàng lớn là Thạch Khê, Bản Lũng, Trại Cau, Quy Sa,…
   Khoáng sản đồng: trữ lượng dự báo của khoáng sản đồng Việt Nam là 5,4 triệu tấn. Mỏ đang khai thác là Sin Quyền (Lào Cai) có trữ lượng đã đánh giá là 1,2 triệu tấn.
   NiKen: có một khoáng sàng đang thăm dò chi tiết với trữ lượng dự báo là 150 ngàn tấn ở Bản Phúc (Sơn La).      
   Mangan: đã phát hiện được 34 khoáng sàng và điểm quặng với trữ lượng đã thăm dò là 1,8 triệu tấn (trữ lượng dự báo 7  8 triệu tấn, tập trung nhiều ở Hà Tĩnh, Cao Bằng, Tuyên Quang).
   Crômít: mỏ crômít Cổ Định là mỏ đang được khai thác, trữ lượng 10 triệu tấn. Có khả năng phát hiện thêm các khoáng sàng crômít khác nữa dọc đới đứt gãy sâu Sông Mã. 
   Titan (inmenit): đã phát hiện được gần 70 khoáng sàng và điểm quặng – chủ yếu là sa khoáng ven biển (trong đó có 5 khoáng sàng lớn, 7 trung bình, nằm ở ven biển Hà Tĩnh, Thừa Thiên Huế, Bình Định, Bình Thuận…) với trữ lượng 12,5 triệu tấn  (dự báo 19  22 triệu tấn).
   Bauxit: Việt Nam có 2 loại hình bauxit chính – bauxit Pecmi khoảng 70 khoáng sàng và điểm quặng với 520 triệu tấn  (Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn…) và bauxit laterit Kainozoi với trữ lượng 2,7  3,5 tỷ tấn (dự báo 6,6  7,5 tỷ tấn) phân bố ở các tỉnh Lâm Đồng, Đắc Lắc, Kom Tum, Khánh Hoà,…
   Thiếc: đã phát hiện được hơn 100 khoáng sàng và điểm quặng nằm trong 4 vùng khoáng sản chính là Tam Đảo, Pia Oắc, Quỳ Hợp, và Lâm Đồng với trữ lượng gần 160 ngàn tấn. Ngoài ra một số mỏ đã đi vào giai đoạn kết thúc như Bắc Lũng, Tĩnh Túc,…
   Antimon: đã phát hiện được hơn 50 khoáng sàng và điểm quặng (Mậu Duệ, Làng Vài, Khuốn Pục, Khe Chim, Linh Quang…). Trữ lượng dự báo khoảng 1,5 triệu tấn. 
   Chì kẽm:đã phát hiện khoảng 500 khoáng sàng và điểm quặng (72 khoáng sàng đã được điều tra đánh giá) với trữ lượng 7,8 triệu tấn (trữ lượng dự báo là 21 triệu tấn ). Các vùng khoáng sản điển hình là Chợ Điền, Chợ Đồn, Làng Mích, Tòng Bá,…
   Vonfram: đã phát hiện khoảng 10 khoáng sàng và điểm quặng. Trong đó mỏ Thiên Kế đang được khai thác với trữ lượng đã được đánh giá là 170 ngàn tấn. Khoáng sàng đa kim Núi Pháo (Đại Từ – Thái Nguyên) với trữ lượng các cấp A, B, C1 và C2 đã được duyệt sẽ thu hồi được 227,6 ngàn tấn.
   Vàng: đã phát hiện khoảng 300 khoáng sàng và điểm quặng, trữ lượng ước tính khoảng 150  300 tấn (trữ lượng dự báo là 1,8 ngàn tấn).
Logged

Offlinedom

  • Newbie
  • *
  • default avatar
  • Bài viết: 43
    • Xem hồ sơ cá nhân
Re: Các loại khoáng sản, trữ lượng, hiện trạng khai thác và tiềm năng
« Reply #3 vào lúc: 03:10:28 pm , Ngày 16, Tháng Tám , năm 2009 »
  •  
I. Khoáng sản quặng sắt:

Hầu hết quặng sắt được sử dụng để sản xuất gang thép. Trong thời gian gần đây quặng sắt được sử dụng trong một số lĩnh vực khác như sản xuất bột màu, bột mài, cát khuôn đúc, bột dung dịch khoan, phụ gia xi măng,...
I.1- Đặc điểm phân bố khoáng sản sắt Việt Nam
Cho đến nay lãnh thổ Việt Nam đã ghi nhận được hơn 300 mỏ và điểm quặng sắt. Trong đó có 48 mỏ đã được tìm kiếm, thăm dò ở các mức độ khác nhau. Quặng sắt phân bố rất không đồng đều, chủ yếu ở phía Bắc và tập trung chủ yếu ở các khu vực sau:
- Khu vực Đông Bắc Bắc Bộ: phân bố chủ yếu ở Thái Nguyên, Cao Bằng, Hà Giang.
- Khu vực Tây Bắc Bắc Bộ: phân bố chủ yếu ở Yên Bái, Lào Cai.
- Khu vực Bắc Trung Bộ: quặng sắt tập trung ở mỏ sắt Thạch Khê (Hà Tĩnh), Thanh Hoá.
- Khu vực Trung Trung Bộ: quặng sắt gặp ở Mộ Đức (Quảng Ngãi) và rải rác ở một số điểm khác với quy mô không đáng kể.
- Khu vực Nam Trung Bộ và Nam Bộ chưa gặp các mỏ sắt có giá trị công nghiệp.
Các mỏ sắt ở VN bao gồm: Lũng Rầy-Lũng Khoè, Sàng Thần, Nam Lương tỉnh Hà Giang; Bó Lếch, Nguyên Bình tỉnh Cao Bằng; Làng Khuôn, Hưng Khánh tỉnh Yên Bái; Dưỡng Chính tỉnh Hải phòng; Cái Bầu tỉnh Quảng Ninh; Sơn Nguyên tỉnh Phú Yên. , Tòng Bá tỉnh Hà Giang; Nà Lũng tỉnh Cao Bằng; Bản Phắng tỉnh Bắc Cạn; Kíp Tước-Hợp Thành, Vũ Lao tỉnh Lào Cai; Làng Mỵ tỉnh Yên Bái; Bản Chanh, Núi Dương tỉnh Hoà Bình; Tăng Ma tỉnh Phú Thọ; Phúc Ninh tỉnh Tuyên Quang; Gia Chánh tỉnh Lạng Sơn; Thanh Kỳ, Tuyên Quang tỉnh Thanh Hoá; Đức Mộ tỉnh Quảng Ngãi; Na Lương tỉnh Bắc Giang; Khu Đuổm, Phố Giá, Đá Liền, Kỳ Phú, Tương Lai tỉnh Thái Nguyên.
Các mỏ thăm dò tương đối tỷ mỷ bao gồm gồm: Ngườm Chám tỉnh Cao Bằng; Quý Xa tỉnh Lào Cai; Nghĩa Lộ tỉnh Quảng Ninh; Thạch Khê tỉnh Hà Tĩnh; Tiến Bộ, Đồng Hỷ, Đại Khái, Trại Cau tỉnh Thái Nguyên.

Hiện nay, Tổng công ty thép đang khai thác chủ yếu ở mỏ Trại Cau với sản lượng hàng năm gần 200 nghìn tấn phục vụ khu gang thép Thái Nguyên.
Quặng sắt còn được một số doanh nghiệp địa phương khai thác như Công ty thép Cao Bằng thuộc Tổng công ty khoáng sản; Công ty khoáng sản tỉnh Lào Cai khai thác tận thu để xuất khẩu quặng thô sang Trung Quốc.
Tại vùng Tuyên Quang Tổng công ty thép Việt Nam khai thác tận thu để cung cấp cho Công ty gang thép Thái Nguyên.
Các mỏ sắt đều được khai thác bằng phương pháp lộ thiên với công nghệ khai thác còn yếu kém, kết hợp giữa cơ giới và bán cơ giới, giữa quy mô công nghiệp và tận thu.
Tính đến tháng 12 năm 2005, trên phạm vi toàn quốc mới chỉ có 38 mỏ sắt phân bố trong 18 tỉnh đã được tìm kiếm, thăm dò có trữ lượng cấp C2 trở lên. Trong đó, có 27 mỏ có trữ lượng cấp C1, 8 mỏ có trữ lượng cấp A+B. Tổng trữ lượng sắt Việt Nam (cấp A+B+C1+C2) là 956,415 triệu tấn.

Mỏ có trữ lượng lớn nhất Việt Nam là mỏ sắt Thạch Khê với tổng trữ lượng (A+B+C1+C2) là 544,08 triệu tấn. Hầu hết các mỏ có trữ lượng dưới 10 triệu tấn.
Tỉnh có trữ lượng sắt lớn nhất là tỉnh Hà Tĩnh 544,08 triệu tấn, tiếp đến là các tỉnh Lào Cai, Hà Giang, Yên Bái, Cao Bằng, Thái Nguyên.
Tổng trữ lượng sắt cấp cao (A+B) chiếm tỷ lệ ít so với tổng trữ lượng sắt hiện có (14,02%), tập trung chủ yếu ở mỏ Thạch Khê (Hà Tĩnh), mỏ Quý Xa (Lao Cai) và một số mỏ ở tỉnh Thái Nguyên. Trữ lượng sắt cấp C1 chiếm 48,51% tổng trữ lượng sắt, tập trung chủ yếu ở mỏ Thạch Khê (Hà Tĩnh), Quý Xa (Lao Cai), Tiến Bộ (Thái Nguyên).
Các mỏ sắt được phân theo quy mô: nhỏ, trung bình và lớn theo Quyết định số 56/QĐ-BCN ngày 22 tháng 9 năm 2000 của Bộ Công nghiệp cụ thể là:
- Mỏ sắt quy mô lớn có trữ lượng (cấp A+B+C1+C2) lớn hơn 100 triệu tấn.
- Mỏ sắt quy mô trung bình có trữ lượng (cấp A+B+C1+C2) từ 20 triệu tấn đến 100 triệu tấn.
- Mỏ sắt quy mô nhỏ có trữ lượng (cấp A+B+C1+C2) dưới 20 triệu tấn.
Theo quy định nêu trên, đến thời điểm hiện nay trên toàn lãnh thổ nước ta gồm 2 mỏ có quy mô mỏ lớn là mỏ sắt Thạch Khê (Hà Tĩnh), Quý Xa (Lao Cai); 6 mỏ quy mô trung bình: Tòng Bá, Sàng Thần, Nam Lương (Hà Giang), Nà Lũng (Cao Bằng), Làng Mỵ (Yên Bái), Tiến Bộ (Thái Nguyên); còn lại đều thuộc loại mỏ nhỏ. Trong đó, riêng 2 mỏ lớn đã chiếm 69,44% tổng trữ lượng sắt quốc gia
Logged

Offlinedom

  • Newbie
  • *
  • default avatar
  • Bài viết: 43
    • Xem hồ sơ cá nhân
Re: Các loại khoáng sản, trữ lượng, hiện trạng khai thác và tiềm năng
« Reply #4 vào lúc: 03:15:27 pm , Ngày 16, Tháng Tám , năm 2009 »
  •  
II.  NICKEN - COBAN
A- Khái quát chung
   Nicken và coban thuộc nhóm VIII của hệ thống tuần hoàn các nguyên tố có số thứ tự 28 và 27, nguyên tử lượng 58,71 và 58,9, trị số clark là 0,008% và 0,003%.
   Hiện đã biết có nhiều khoáng vật của nicken và crom cũng như các khoáng vật có chứa nicken và coban. Tuy nhiên, có giá trị công nghiệp là các khoáng vật sau:
   - Nicken: Các khoáng vật sulfur penladit (Fe, Ni)9S8 (22-42%), pyrotin chứa nicken (0,25-14,22%Ni). Các khoang svật silicat: gacnierit (Ni, Mg)SiO4.nH2O, nepuit 3(Ni, Mg)O.2SiO2.2H2O và nontronit. Trong số khoáng vất oxyt có huđroxyt mangan, sắt, atbolan và psilomelan. Trong asenur có nickelin (cupfeniken, nikelin) NiAs. Các khoáng vật nicken khác chỉ có ý nghĩa thực tiễn trong trường hợp khi chũng đi cùng với khoáng vật nicken có giá trị công nghiệp phổ biến hơn.
   - Coban: moderit CoAs, Smantit (Co, Ni)As3-2, Saflorit(Co, Fe)As2, cobantin CoAsS, glaucodat (Co, Fe)AsS, lineit Co3S4, crintrit (AsO4)3CO3. 8H2O, sferocobantit CoCO3, sigenit (Co, Ni)3S4, catierit CoS2, cacronit CuCO2S4, heterogenit CoO.2Co2O3.6H2O.
 b- Lĩnh vực sử dụng
Nicken là một trong những kim loại quan trọng của nền kỹ thuật hiện đại. Nó được sử dụng trong ngành công nghiệp ôtô, máy kéo, hoá chất, thực phẩm, sản xuất thiết bị y tế, trong kỹ thuật điện, đúc tiền,...phần lớn nicken được dùng dưới dạng hợp kim với các kim loại khác (sắt, crom, coban, đồng, nhôm).
Coban được dùng rộng rãi nhất trong lĩnh vực sản xuất thép và các hợp kim chịu nhiệt, các hợp kim từ tính, các hợp kim cứng, thép gió. Đồng vị phóng xạ Co60 được dùng rộng rãi trong y tế, trong phép dò khuyết tật lúc chiếu sáng vật đúc và các sản phẩm khác bằng kim loại. Ngoài ra coban còn được dùng trong ngành công nghiệp hoá học để làm chất xúc tác, sản xuất men trắng, sơn màu, một số muối của coban được sử dụng trong nông nghiệp.
c- Các kiểu mỏ công nghiệp
- Đối với nicken, giá trị công nghiệp chủ yếu hiện nay là các mỏ và quặng nicken đồng sulfur nội sinh và nicken silicat ngoại sinh. Các mỏ nicken nhiệt dịch và trầm tích không có giá trị công nghiệp quan trọng.   
+ Quặng và các mỏ nicken-đồng sulfur nội sinh có liên quan về nguồn gốc và không gian với các phức hệ đá magma mafic và siêu mafic. Quặng nicken kiểu này có thành phần khoáng vật ổn định. Khoáng vật tạo quặng là penlandit, pyrotin chứa nicken, chalcopyrit, đôi khi milerit và magnetit. Tỷ số hàm lượng Ni:Cu ở một số mỏ từ 2:1 đến 1:2; tỷ số Co:Ni từ 1:20 đến 1:40.
+ Quặng và các mỏ nicken-silicat ngoại sinh: gồm các loại hình vỏ phong hoá cổ Mesozoi sớm của serpentinit, vỏ phong hoá Đệ Tam- Đệ Tứ của serpentinit, các thành tạo trầm tích lục địa ở các vùng phân bố đá serpentinit hoá.
- Đặc trưng của coban là không những nó liên kết chặt chẽ với sắt và nicken, mà còn liên kết với các nguyên tố khác như mangan, đồng, bạc, bismut, vàng, uran. Vì vậy, nhiều mỏ thuộc các kim loại này đều có chứa coban. Quặng hoá coban biểu hiện hầu như trong tất cả các kiểu nguồn gốc từ mỏ magma đến trầm tích và liên quan với các phức hệ magma khác nhau từ siêu mafic đến axit. Các kiểu công nghiệp chủ yếu của quặng coban và mỏ chứa coban gồm:
+ Skorn và các mạch quặng coban-arsen
+ Quặng coban-arsen
+ Quặng và các loại mỏ pyrit-coban
+ Quặng sulfur giàu coban-đồng
+ Các mỏ và quặng nicken-coban-arsen
+ Các mỏ quặng đồng đa kim
+ Quặng nicken-sắt
+ Quặng coban-mangan.

B- Khoáng sản nicken-coban ở Việt Nam
a- Khái quát về đặc điểm phân bố
Trừ các mỏ ở vùng Tạ Khoa (Sơn La) có thành phần nicken, coban là thành phần chính, còn tất cả các vùng khác nicken và coban là các thành phần phụ đi kèm. Khoáng sản nicken, coban gắn bó chặt chẽ với các mỏ đồng, crom với các mức hàm lượng khác nhau. Vì vậy, sự phân bố của khoáng sản nicken, coban trùng với vị trí phân bố các mỏ đồng, crom trên lãnh thổ Việt Nam, trong đó tập trung chủ yếu ở Sơn La (Bản Khoa, Bản Phúc), Thanh Hoá (Cổ Định, Bãi Áng).
b- Mức độ điều tra
Mức độ điều tra khoáng sản nicken, coban được gắn liền với quá trình tìm kiếm, thăm dò các mỏ đồng, crom của đất nước. Tuy nhiên, nicken, coban là những khoáng sản phụ đi kèm nên hầu hết chỉ được dự báo tài nguyên có mức độ tin cậy thấp. Đến nay, chỉ có mỏ Bản Khoa, Bãi Áng là có mức độ điều tra cao và đã tính trữ lượng nicken, coban đến cấp B và C1; các mỏ khác chúng chỉ được dự báo tài nguyên cấp P1.
c- Hiện trạng khai thác, sử dụng
Đến nay, nicken và coban chưa được khai thác công nghiệp ở Việt Nam, nhu cầu Ni-Co ở nước ta hiện nay đều phải nhập từ nước ngoài. So với nhu cầu như hiện nay thì nguồn tài nguyên Ni-Co ở nước ta phong phú và có thể sử dụng được lâu dài. Vấn đề đặt ra là cần nghiên cứu công nghệ khai thác, thu hồi loại khoáng sản này để phục vụ nhu cầu phát triển cảu đất nước.
d- Các loại hình mỏ quặng nicken-coban
Theo đặc điểm nguồn gốc, quặng nicken và coban được chia ra:
- Quặng hoá liên quan với các xâm nhập siêu mafic: gồm hầu hết các mỏ và điểm quặng Ni-Cu-Co như Bản Khoa, Bản Phúc, Đèo Chẹn, Bản Nguồn, Bản Mông,...(vùng Tạ Khoa tỉnh Sơn La);  Suối Củn, Đông Chang (Cao Bằng); Bản Rịn (Thái Nguyên).
- Quặng hoá Cu-Co nguồn gốc nhiệt dịch có trong mỏ đồng Sin Quyền và các điểm quặng vùng Ngòi Hút, An Lương và hàng loạt các điểm quặng khác phân bố trong các đá biến chất hệ tầng Sin Quyền
- Quặng hoá nicken-coban trong vỏ phong hoá các đá siêu mafic có chứa nicken, coban: mỏ sa khoáng cromit Cổ Định, Bãi Áng. Hai mỏ này có tổng tài nguyên Ni, Co lớn nhưng hàm lượng thấp nên rất khó thu hồi.
e- Trữ lượng quặng nicken, coban
Tài nguyên khoáng sản nicken, coban đi kèm trong các mỏ đồng, crom khá lớn và phổ biến rộng rãi. Nếu lấy trữ lượng 30 nghìn tấn trở lên là mỏ lớn thì ở Việt Nam hiện có 3 mỏ lớn gồm: Bản Khoa, Bãi Áng, Cổ Định (xem bảng 1 và 2). Các mỏ khác có quy mô nhỏ và mới chỉ ở mức dự báo tài nguyên có độ tin cậy thấp.
Bảng 1: Trữ lượng nicken ở Việt Nam
TT   Tên mỏ   Trữ lượng (tấn)
        A+B   C1   C2   P1   A+B+C1+C2
Tỉnh Thanh Hoá
1   Bãi Áng-Mậu Lâm      3 262   610 822      614 084
2   Cổ Định            3 008 360   
   Cộng      3 262   610 822   3 008 360   614 084
Tỉnh Sơn La
1   Bản Khoa   10 895   78 729   36 028   4 499   125 652
   Cộng   10 895   78 729   36 028   4 499   125 652
Tổng cộng   10 895   81 991   646 850   3 012 859   739 736

Bảng 2: Trữ lượng coban ở Việt Nam
TT   Tên mỏ   Trữ lượng (tấn)
      A+B   C1   C2   P1   A+B+C1+C2
Tỉnh Thanh Hoá
1   Bãi Áng-Mậu Lâm      711   5 150 128      5 150 839
2   Cổ Định            2 790 990   
   Cộng      711   5 150 128   2 790 990   5 150 839
Tỉnh Sơn La
1   Bản Khoa      445   2 292      2 737
   Cộng      445   2 292      2 737
Tổng cộng      1 156   5 152 420   2 790 990   5 153 576

Như vậy, tới thời điểm hiện nay trữ lượng đã tính được của Ni=739736 tấn, Co= 5153576 tấn  và tập trung chủ yếu ở mỏ sa khoáng Bãi Áng - Mậu Lâm. Ngoài ra, ở mỏ sa khoáng Cổ Định còn có tiềm năng tài nguyên lớn với hơn 3 triệu tấn Ni và gần 3 triệu tấn Co. Hai mỏ Bãi Áng - Mậu Lâm và Cổ Định thuộc tỉnh Thanh Hoá chiếm trữ lượng và tài nguyên Ni, Co chủ yếu của đất nước. Mặc dù hàm lượng Ni, Co ở hai mỏ này không cao, song quy mô lớn và điều kiện khai thác thuận lợi nên cần nghiên cứu công nghệ khai thác và thu hồi đối với loại hình này.
Logged

Offlinedom

  • Newbie
  • *
  • default avatar
  • Bài viết: 43
    • Xem hồ sơ cá nhân
Re: Các loại khoáng sản, trữ lượng, hiện trạng khai thác và tiềm năng
« Reply #5 vào lúc: 03:17:03 pm , Ngày 16, Tháng Tám , năm 2009 »
  •  
III. MANGAN
Quặng mangan chủ yếu được sử dụng trong công nghiệp luyện kim (chiếm gần 95% sản lượng khai thác), phần còn lại được sử dụng trong công nghiệp hoá chất, sản xuất pin khô, ngành thuỷ tnh, sản xuất men, thuốc nhuộm....
Quặng mangan dùng trong hoá học là loại quặng giàu và sạch, chủ yếu là pyrolusit chứa hàm lượng MnO2 không dưới 82%
Quặng mangan dùng trong luyện kim tuỳ thuộc vào mục đích khác nhau, để luyện các loại feromangan tiêu chuẩn, hàm lượng mangan trong quặng hoặc tinh quặng thải phải trên 40%, SiO2 không quá 9  12%, hàm lượng photpho không quá 0,2%. Quặng cacbonat chứa mangan dùng làm trợ dung khi luyện thép thông thường thì hàm lượng Mn trong chúng có thể hạ thấp tới 8  12%. Quặng sắt mangan khi luyện lò đứng thường chứa trên 7% Mn
a. Khái quát về đặc điểm phân bố
   Đến nay  trên toàn lãnh thổ Việt Nam đã phát hiện được 34 mỏ và điểm quặng mangan. Trong đó, chỉ mới có 12 mỏ đã được tìm kiếm, thăm dò với các mức độ khác nhau . Các mỏ mangan tập trung ở miền bắc và phân bố trên ba tỉnh: Cao Bằng (7 mỏ), Tuyên Quang (2 mỏ) và Nghệ An (3 mỏ)
b. Mức độ điều tra
   Như đã nêu trên, trong số 34 mỏ và điểm quặng mangan đã phát hiện có đến 22 điểm quặng (65%) mới chỉ ở mức độ khảo sát, phát hiện trong quá trình đo vẽ và lập bản đồ địa chất. Trong số 12 mỏ đã được tìm kiếm thăm dò gồm 3 mức độ điều tra
   - Tìm kiếm đánh giá: gồm 10/12 tổng số mỏ gồm: Trùng Khánh, Bản Khuôn, Lũng Phầy, Mã Phục, Lũng Luông, Lũng Sườn tỉnh Cao Bằng, Phiên Lang tỉnh Tuyên Quang, Nam Tân, Khánh Sơn, Núi Thành tỉnh Nghệ An
   - Thăm dò sơ bộ: mỏ Nà Pết tỉnh Tuyên Quang
   - Thăm dò tỷ mỷ: mỏ Tốt Tát tỉnh Cao Bằng
c. Trữ lượng quặng mangan
Tính đến tháng 12 năm 2005, trên phạm vi toàn lãnh thổ mới chỉ có 12 mỏ mangan phân bố trên 3 tỉnh đã được tìm kiếm, thăm dò. Trong đó, chỉ có mỏ Tốt Tát tính trữ lượng cấp A+B; 8 mỏ tính trữ lượng cấp C1; 11 mỏ tính trữ lượng cấp C2. Tổng trữ lượng quặng mangan (A+B+C1+C2) ở Việt Nam là 3,794 triệu tấn
Mỏ mangan có trữ lượng lớn nhất Việt Nam là mỏ Tốt Tát có trữ lượng (A+B+C1+C2) là 1,2789 triệu tấn, thuộc loại mỏ trung bình, chiếm 33,72% trữ lượng mangan toàn quốc. Các mỏ còn lại đều có trữ lượng dưới 1 triệu tấn đến vài chục nghìn tấn. Trữ lượng quặng mangan tập trung chủ yếu ở tỉnh Cao Bằng, chiếm 90% tổng trữ lượng mangan quốc gia
Tổng trữ lượng mangan cấp cao (A+B) chiếm tỷ lệ thấp (10,78%) so với tổng trữ lượng mangan hiện có và chỉ tập trung ở mỏ Tốt Tát, trữ lượng cấp C1 chiếm 35,68% và tập trung chủ yếu ở hai mỏ Tốt Tát và Lũng Luông tỉnh Cao Bằng
Logged

Offlinedom

  • Newbie
  • *
  • default avatar
  • Bài viết: 43
    • Xem hồ sơ cá nhân
Re: Các loại khoáng sản, trữ lượng, hiện trạng khai thác và tiềm năng
« Reply #6 vào lúc: 03:21:32 pm , Ngày 16, Tháng Tám , năm 2009 »
  •  
IV- CROMÍT

IV.1- Khái niệm chung
a- Khái quát chung
Nguyên tố crom thuộc nhóm VIB của hệ thống tuần hoàn các nguyên tố, số thứ tự 24, nguyên tử lượng 52. Crom có trị số clark trong vỏ trái đất là 0,035%, là kim loại ánh trắng bạc, ở nhiệt độ bình thường không bị ăn mòn trong không khí và trong nước.
Trong tự nhiên đã phát hiện được tất cả 30 loại khoáng vật chứa crom, trong đó chỉ có vài loại trong nhóm cromspinelit là có giá trị công công nghiệp. Công thức chung của cromspinelit: (Mg, Fe)(Al, Cr)2O4 chứa 18-62% Cr2O3, trong đó có giá trị thực tiễn lớn nhất là 3 dạng: magnecromit (Fe, Mg) Cr2O4, crompicotit (Mg, Fe)(Al, Cr)2O4và alumocromit (Fe, Mg)(Cr, Al)2O4.
Trong một số sách giáo khoa nêu rằng: khoáng vật cromit FeCr2O4 là loại quặng chủ yếu để lấy crom, nhưng trong tự nhiên không tìm thấy được loại khoáng vật thành phần như vậy. Trong thực tế khai thác, quặng crom gồm các tích tụ cromspinelit luôn chứa một số lượng MgO nào đó và người ta gộp chung là "cromit".
Trong số các hợp chất tự nhiên khác của crom, đáng chú ý là: Crocoit PbCr2O3. Fơnicocroit Pb3(Cr4)2O, vokelenit Pb2Cu(CrO4)(PO4), Stictit
MgCO3.5Mg(OH)2.2Cr(OH)3.4H2O, vonconscoit (Cr, Fe, Al)4(Si4O10)(OH)8.2H2O, uvarovit Ca3Cr2(SiO4), kemererit (Mg, Fe)5 (Al, Cr)(AlSi3O10)(OH)8. Ngoài ra còn hàng loạt các khoáng vật silicat có chứa crom và chình trong crom làm ảnh hưởng đến màu sắc của chúng, một số quặng sắt có chứa một vài phần trăm crom.

b- Lĩnh vực sử dụng
Phần lớn, crom được sử dụng trong công nghiệp luyện kim (75%) với loại quặng có hàm lượng Cr2O3  49%, tỷ số Cr2O3/FeO2,7. Ngoài ra, crom còn được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau như: sản xuất vật liệu chịu lửa, công nghiệp hoá chất, cát khuôn đúc.....

c- Các kiểu mỏ công nghiệp
Về nguồn gốc, tất cả các mỏ cromit công nghiệp đã biết đều được thành tạo trong pha magma hình thành và các khối đá siêu mafic.
Theo điều kiện thành tạo và đặc điểm địa chất của mỏ cromit chia ra: mỏ magma sớm, mỏ magma muộn, mỏ nhiệt dịch và mỏ phong hoá. Trong đó, các mỏ nhiệt dịch có giá trị thực tế không đáng kể.
d- Nhu cầu và thị trường crom
Nhu cầu thế giới hàng năm cần 10-12 triệu tấn tinh quặng crom. Trong đó, khoảng 75% sử dụng cho luyện kim, 8% cho sản xuất vật liệu chịu lửa, 8% cho công nghiệp hoá chất, 8% cho cát khuôn đúc và 1% cho các lĩnh vực khác. Yêu cầu chất lượng tinh quặng crom sử dụng trong các lĩnh vực công nghiệp thể hiện ở bảng 3.1
Bảng 3.1: Phân loại quặng crom theo lĩnh vực sử dụng (%)
Hợp phần   Lĩnh vực sử dụng
   Luyện kim   Hoá học   Vật liệu chịu nhiệt   Cát khuôn đúc
Cr2O3   >46   >44   30-40   >44
Cr:Fe   >2:1   >1,5   2-2,5:1   2:1
SiO2   <10   <3,5   6   <4
Al2O3         25-30   
CaO            <0,5

Sản lượng ferocrom trên thế giới đứng dầu là Nam Phi từ trên 1 triệu tấn đến trên 2 triệu tấn/năm, tiếp theo là Kazakstan, Trung Quốc, .......(bảng 3)
Bảng 3: Sản lượng ferocrom của mười nước chủ yếu trên thế giới
 từ năm 1994 - 1998 (103 tấn)
TT   Tên nước   1994   1995   1996   1997   1998
1   Nam phi   1 104   1 341   1 478   1 890   2 185
2   Kazakstan   373   512   352   600   535
3   Trung Quốc   370   500   423   480   424
4   Ấn Độ   251   304   262   287   345


IV.2- Khoáng sản crom Việt Nam
a- Khái quát chung và đặc điểm phân bố
Cho đến nay, khoáng sản crom ở Việt Nam chỉ mới phát hiện được ở tỉnh Thanh Hoá gồm hai mỏ sa khoáng và hai điểm quặng gốc. Các mỏ sa khoáng gồm: Cổ Định và Bãi Áng.
- Các mỏ cromit Cổ Định phân bố ở phía đông bắc Núi Nưa, địa phận huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hoá. Mỏ gồm các thung lũng Cổ Định, Mỹ Cái-Hoà Yên, Tinh Mễ-An Thượng.
- Mỏ cromit Bãi Áng phân bố ở rìa tây nam Núi Nưa, thuộc các huyện Nông Cống, Triệu Sơn, Như Xuân tỉnh Thanh Hoá. Mỏ gồm hai thung lũng Bái Áng và Mậu Lâm.
Các điểm quặng cromit gốc gồm Núi Nưa và Làng Mun đều có nguồn gốc magma và liên quan với phức hệ xâm nhập siêu mafic Núi Nưa. Các điểm quặng gốc có quy mô nhỏ, hàm lượng nghèo, không có giá trị công nghiệp.
b- Mức độ điều tra
Ngoài các điểm quặng gốc mới chỉ ở mức độ khảo sát phát hiện, các mỏ sa khoáng cromit có mức độ điều tra khá tương đối tốt. Trong đó, mỏ Cổ Định đã được thăm dò sơ bộ đến trữ lượng cấp B, mỏ Bãi Áng được tìm kiếm đánh giá cấp trữ lượng C1.
c- Hiện trạng khai thác sử dụng
Hiện nay mỏ cromit Cổ Định do xí nghiệp mỏ Cổ Định, xí nghiệp khai thác chế biến khoáng sản Thanh Hoá khai thác. Hệ thống khai thác tuyển bán cơ khí với công suất 3600-4000 tấn tinh quặng/năm, ngoài ra còn hai phân xưởng khai thác thủ công với sản lượng 7000-9000 tấn tinh quặng/năm. Sản phẩm khai thác, chế biến cromit chủ yếu để xuất khẩu.
Do quá trình khai thác thiếu quy hoạch nên mặt bằng hiện nay của vùng mỏ bị đào xới mạnh mẽ, các thân quặng không còn nguyên vẹn, việc khai thác tự do phổ biến, chủ yếu tập trung các phần quặng giàu, bỏ khu hàm lượng thấp dẫn đến lãng phí tài nguyên và tàn phá cảnh quan môi trường.
d- Các loại mỏ quặng cromit công nghiệp
Như đã nêu ở trên, đến nay ở Việt Nam mới chỉ có hai mỏ cromit nguồn gốc sa khoáng là có giá trị công nghiệp. Các thân quặng có dạng vỉa, thấu kính với kích thước tương đối lớn, khá ổn định. Khoáng vật quặng là cromit, đi kèm còn có Ni, Co với hàm lượng đáng kể. Hàm lượng Cr2O3 trong các mỏ từ trung bình đến giàu(>3% đến 41,52%), điều kiện khai thác thuận lợi, chất lượng tinh quặng tốt, tuy nhiên, tỷ lệ thu hồi quặng chưa cao do cỡ hạt cromit nhỏ, việc thu hồi các khoáng sản đi kèm Co, Ni khó khăn.
e- Trữ lượng quặng crom
Theo số liệu thống kê hai mỏ sa khoáng cromit ở Việt Nam đều thuộc loại mỏ lớn với tổng trữ lượng(A+B+C1+C2) đạt trên 27 triệu tấn, trong đó mỏ Cổ Định đạt trên 20 triệu tấn. Ngoài ra tài nguyên dự báo P1 của hai mỏ đạt trên 6 triệu tấn. Đi kèm với crom, còn có nicken và coban với số lượng tài nguyên đáng kể: trên 3 triệu tấn Ni, 284 nghìn tấn Co.
Trữ lượng crom cấp cao(A+B) chiếm tỷ lệ 12,49% tổng trữ lượng và chỉ phân bố ở mỏ Cổ Định. Trữ lượng cấp C1 chiếm tỷ lệ cao 41,81% và tập trung chủ yếu ở mỏ Cổ Định (xem bảng 4).

Bảng 4: Tổng hợp trữ lượng quặng crom ở Việt Nam
TT   Tên mỏ   Trữ lượng
(tấn)   Khoáng sản đi kèm
(tấn)
      A+B   C1   C2   P1   A+B+C1+C2   
1   Bãi Áng      46 496   6 373 606      6 420 102   Co=13 416
Ni= 5 344
2   Cổ Định   3 386315   11 287 476   6 013 600   6013 600   20 687 391   Co= 270 990
Ni=3 008 360
Tổng cộng   3  386 315   11 333 972   12 387 206      27 107 493   
   Tóm lại: Nước ta chỉ có hai mỏ cromit sa khoáng ở vùng Núi Nưa là duy nhất đã được tìm thấy và đánh giá, thăm dò. Với tổng trữ lượng quặng crom quốc gia không nhiều nên cần thiết phải có quy hoạch khai thác và sử dụng hợp lý, tiết kiệm nguồn tài nguyên này. Trước mắt cần tạm ngừng ngay khai thác để điều tra, quy hoạch lại mỏ, chấm dứt tình trạng khai thác thủ công vô tổ chức. Việc khai thác chỉ được tiến hành dựa trên cơ sở các dự án tính toán đảm bảo hiệu quả kinh tế, bảo vệ môi trường và sự phát triển bền vững của ngành công nghiệp luyện kim đen. Cần nghiên cứu khả năng sử dụng tổng hợp các sản phẩm khai thác được đặc biệt là Ni, Co.
Logged

Offlinedom

  • Newbie
  • *
  • default avatar
  • Bài viết: 43
    • Xem hồ sơ cá nhân
Re: Các loại khoáng sản, trữ lượng, hiện trạng khai thác và tiềm năng
« Reply #7 vào lúc: 03:25:56 pm , Ngày 16, Tháng Tám , năm 2009 »
  •  
V. TITAN
V.1 Khái quát chung về quặng titan
a-   Khái quát chung
Titan, ký hiệu Ti, là nguyên tố hoá học nhóm VI hệ tuần hoàn Mendeleev, số thứ tự 22, khối lượng nguyên tử 47,90. Hàm lượng trong vỏ trái đất chiếm 0,57% khối lượng.
Hiện đã biết có hơn 80 khoáng vật chứa titan, nhưng đa số ít gặp trong thiên nhiên. Hiện nay, công nghiệp sử dụng chủ yếu 3 khoáng vật để lấy oxyt titan gồm: ilmenit FeTiO3 (31,6% Ti), rutil TiO2 (60% Ti) và Leucoxen TiO2.nH2O. Ngoài ra, còn có thể thu hồi titan. Khi chế biến các khoáng vật chứa titan khác như peroovkit, titanomagnetit, loparit.
b- Lĩnh vực sử dụng
Titan có nhiệt độ nóng chảy cao, tỷ trọng thấp hơn sắt và có tính cơ học cao. Vì vậy, titan được dùng rộng rãi trong ngành chế tạo tên lửa và máy bay hiện đại, trong các lò phản ứng hạt nhân, trong ngành chế tạo máy móc để sản xuất các chi tiết quan trọng của máy máy móc. Carbur và nitơrua titan còn được sử dụng để chế tạo vật liệu mài, từ titan người ta chế tạo ra bột màu trắng, thuỷ tinh chịu nhiệt,…
b-   Các kiểu mỏ công nghiệp
Các kiểu mỏ công nghiệp của titan chủ yếu nhất hiện nay gồm:
-   Các mỏ trầm tích:
+ Các sa khoáng cổ gồm cát và cát kết giàu ilmenit, leucoxen, zircon có chứa rutil.
+ Các sa khoáng hiện đại và các đụn cát có ý nghĩa thực tế nhất trong ngành công nghiệp titan trên thế giới.
+ Các sa khoáng aluvi thường có hàm lượng ilmenit không cao nhưng đôi khi cho phép dùng hệ thống khai thác bằng tàu cuốc có lợi nhất.
-   Các mỏ magma:
+ Liên quan với gabro, norit, pyroxenit. Quặng là titanomagnetit loại đặc sít hoặc xâm tán. Các thành phần công nghiệp của quặng là sắt, titan, vanadi.
+ Liên quan với anotozit, gabro - anortozit và nằm trong chúng. Quặng ilmenit và rutil - ilmenit chứa rutil và apatit tạo thành những tích tụ lớn.
-   Các mỏ tàn dư trong vỏ phong hoá hoá học: từ quặng của các mỏ này có thể lấy được tinh quặng ilmenit.
-   Các mỏ rutil và ilmenit bị biến chất liên quan với phức hệ đá biến chất: đá phiến kết tinh giàu aldalusit, disten, silimanit, graphit, cát kết quarzit, các đá chứa coridon, amphibolit, eclogit.
Ngoài các kiểu mỏ kể trên, còn các mỏ có nguồn gốc magma, trong đó titan nằm trong tổ hợp với các khoáng sản có ích khác: titanomagnetit có ilmenit mọc xen với magnetit và peroovkit. Các kiểu mỏ này có trữ lượng lớn nhưng chưa có phương pháp nào hiểu quả và có lợi để thu hồi titan và các thành phần có ích khác từ loại quặng này.
c-   Nhu cầu thị trường quặng titan
Nhu cầu sử dụng titan trên thế giới không ngừng gia tăng. Hiện nay, mức tiêu thụ ilmenit và rutil của thế giới như sau: ilmenit khoảng 5-7 triệu tấn/năm; rutil tự nhiên khoảng 400-500 triệu tấn/năm, rutil nhân tạo khoảng 300 ngàn tấn/năm, xỉ titan khoảng 800 ngàn tấn/năm. Dự báo đến năm 2010, nhu cầu ilmenit của thế giới trên 10 triệu tấn/năm, rutil tự nhiên khoảng 700 ngàn tấn/năm.
Tốc độ tăng cầu lớn kích thích sự tăng cung và nhiều nước đã tiến hành sản xuất titan. song do sự phân bố không đồng đều, sự hạn chế và kiệt dần về tài nguyên titan đã đẩy chi phí sản xuất lên cao và làm tốc độ tăng cung nhỏ hơn cầu, đẩy giá titan lên cao. Giá kim loại và quặng titan biến đổi thăng trầm, song có xu hướng chung là tăng đáng kể. Trong năm năm gần đây (2000 - 2004) giá quặng ilmenit 54% TiO2 từ 93-98 USD/tấn, giá nguyên liệu titan chế biến như bột dioxyt titan 85% TiO2 từ 425 - 445 USD/tấn, titan kim loại (thép titan) từ 6.700 - 8.800 USD/tấn.
   Theo đánh giá của Hội Địa chất quốc tế, trữ lượng titan trên toàn cầu là trên 600 triệu tấn. Trong đó 70% là mỏ quặng gốc, 30% là mỏ quặng sa khoáng. Với 2 loại sa khoáng, quá trình khai thác, tuyển, luyện thuận lợi hơn nhiều so với quặng gốc nhưng sau một thời gian khai thác đã dần cạn kiệt, buộc phải khai thác quặng gốc với chi phí sản xuất tăng và sẽ tác động trực tiếp làm tăng giá titan lên.

V.2 Khoáng sản titan Việt Nam

a-   Khái quát về đặc điểm phân bố
Ở Việt Nam, sa khoáng ven biển là nguồn tài nguyên lớn và cung cấp titan chủ yếu hiện nay. Các mỏ, điểm quặng sa khoáng ven biển đã được phát hiện phân bố rải rác từ bờ biến Quảng Ninh tới Bình Thuân, trong đó tập trung chủ yếu ở vùng ven biển từ Thanh Hoá đến Bình Thuận.
Ngoài nguồn titan sa khoáng ven biên nêu trên, ở Việt Nam còn có một số mỏ, điểm quặng titan nguồn gốc magma phân bố ở vùng Thái Nguyên, Tuyên Quang và Sơn La. Quặng titan liên quan chặt chẽ với xâm nhập gabroid phức hệ Núi Chúa tuổi Paleozoi muộn - Mesozoi sớm. Trong đó, lớn nhất và có hàm lượng giàu là mỏ titan Cây Trâm (Thái Nguyên) đã được thăm dò từ những năm 1960. Xung quanh những vùng chứa khoáng hoá titan nguồn gốc magma đã phát hiện sa khoáng titan trong lục địa song chưa được đánh giá.

b-   Mức độ điều tra
Các kết quả nghiên cứu địa chất, khoáng sản đến nay đã xác định được trên 60 mỏ, điểm quặng titan ở Việt Nam. Trong đó chủ yếu là các mỏ sa khoáng ven biển. HIện nay, Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam đang tiến hành điều tra, đánh giá triển vọng sa khoáng ven biển từ Thanh Hoá đến Bình Thuận. Kết quả của công tác này chắc chắn còn phát hiện thêm các mỏ, điểm quặng mới. Quặng titan, đặc biệt là loại hình sa khoáng dễ khai thác, nhu cầu thị trường lớn, lợi nhuận cao nên mức độ điều tra được đầu tư tương đối cao. Trong số các mỏ, điểm quặng đã được phát hiện đã có 33 mỏ đã được tìm kiếm, thăm dò với các mức độ khác nhau.
+ Tìm kiếm đánh giá: gồm 14 mỏ, trong đó có 11 mỏ tính trữ lượng đến cấp C2, 3 mỏ tính tài nguyên cấp P1. Các mỏ tính đến trữ lượng cấp C2 gồm: Hải Xuân (Quảng Ninh); Bắc Bù Khạng (Nghệ An); Cương Gián, Cẩm Thăng, Cẩm Sơn, Kỳ Lợi, Kỳ Phương (Hà Tĩnh); Quảng Đông (Quảng Bình); Vĩnh Mỹ (Thừa Thiên -Huế); Mỹ Thọ (Bình Định); Mũi Né (Bình Thuận). Các mỏ mới dự báo tài nguyên cấp P1 gồm: Quảng Xương (Thanh Hoá); Hòn Gốm (Khánh Hoà); Long Hải (Bà Rịa - Vũng Tàu).
+ Thăm dò sơ bộ: gồm các mỏ đã tính trữ lượng đến cấp C1. Các mỏ này phân bố ở các tỉnh miền Trung gồm: Kỳ Xuân, Kỳ Khang (Hà Tĩnh); Vĩnh Thái (Quảng Trị); Cửa Thuận An, Kẻ Sung, Vĩnh Xuân (Thừa Thiên - Huế); Đề Gi, Trung Lương, Xương Lý (Bình Định); Tuy Phong, Vĩnh cửu An, Từ Nham, An Mỹ (Phú Yên); Gò Đình, Cây Găng (Bình Thuận).
+ Thăm dò tỷ mỉ: ở mức độ thăm dò này gồm các mỏ đã tính trữ lượng đến cấp B, A. Đến nay, toàn quốc gia chỉ có 4 mỏ đã được thăm dò tỷ mỉ gồm: Cây Trâm (Thái Nguyên); Bình Ngọc (Quảng Ninh), Cẩm Hà và Cẩm Nhượng (Hà Tĩnh).
c-   Hiện trạng khai thác sử dụng
Việc khai thác, sử dụng và chế biến titan đầu tiên ở nước ta tập trung ở các xí nghiệp khai thác thiếc như Tĩnh Túc, Sơn Dương vào những năm 1982 - 1984. Trong đó, ilmenit được xem như sản phẩm phụ khai thác kèm với  việc khai thác thiếc, wolfram. Sản lượng hàng năm đạt 500 - 600 tấn với hàm lượng TiO2 = 46 -48%.
Từ năm 1984 việc khai thác titan được xí nghiệp khai thác titan Xương Lý tiến hành ở Bình Định với sản lượng 200-300 tấn/năm, hàm lượng TiO2 > 50%. Đến năm 1988, xí nghiệp Xương Lý lần đầu tiên xuất khẩu được 2000 tấn, năm tiếp theo là 5000 tấn và đến năm 1994 là 8000 tấn.
Từ năm 1990 đến nay, các địa phương có nguồn tài nguyên sa khoáng ven biển như Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên -Huế, Bình Định, Phú Yên, Bình Thuận,… đẩy mạnh khai thác. Hàng chục mỏ và điểm quặng đã được cấp phép khai thác và nhiều điểm quặng nhỏ được nhân dân trong vùng khai thác thủ công. Sản lượng tinh quặng ilmenit hàng năm tăng rất mạnh từ 60 lên xấp xỉ 340 nghìn tấn/năm, cung cấp cho một số lĩnh vực công nghiệp trong nước như sản xuất sơn, que hàn, thuỷ tinh, thuộc da,…còn lại chủ yếu là xuất khẩu sang Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc với lượng xuất khẩu hàng năm trên 100 ngàn tấn và gần đây đạt trên 200 ngàn tấn.
Việc khai thác quặng theo phương pháp lộ thiên khá đơn giản với công nghiệp khai thác hiện nay đã được cải tiến và đổi mới nâng cao năng lực thu hồi quặng có ích, các chỉ tiêu kỹ thuật đã thay đổi theo hướng tiến bộ. Sản phẩm khai thác là quặng ilmenit và các sản phẩm có ích đi kèm như rutil, rircon, monazit. Tuy vậy, trong năm qua việc khai thác vẫn còn những vấn đề cần quan tâm sau:
- Do nhu cầu và giá cả thị trường trên thế giới ngày càng tăng cao làm cho việc khai thác trở lên ồ ạt, bừa bãi không theo quy hoạch tổng thể, không quản lý được chặt chẽ.
- Công tác dánh giá giá trị kinh tế và quy hoạch đầu tư phát triển ngành công nghiệp khai thác titan sa khoáng theo quan điểm sử dụng tổng hợp, triệt để tài nguyên khoáng sản còn chưa có do chưa có đủ cơ sở khoa học để tiến hành.
- Công nghệ khai thác, chế biến sâu các sản phẩm từ tinh quặng chưa được đầu tư đúng mức dẫn đến tổn thất tài nguyên và sự thua thiệt nhiều về kinh tế.
- Việc khai thác ồ ạt ở một số địa phương, khai thác chọn lọc những chỗ giàu dẫn đến tổn thất tài nguyên và ảnh hưởng đến cảnh quan, môi trường.
d-   Các loại hình mỏ quặng titan công nghiệp
Theo nguồn gốc thành tạo, các mỏ titan được xếp thành 2 kiểu:
-   Các thành tạo nguồn gốc magma
Các thành tạo titan nguồn gốc magma ở Việt Nam phân bố ở các huyện Đại Từ, Phú Lương, Định Hoá (Thái Nguyên) và Sơn Dương (Tuyên Quang). Ngoài ra còn một vài biểu hiện quặng phân bố rải rác ở vùng Thuận Châu (Sơn La). Quặng titan thuộc loại hình này đều liên quan đến xâm nhập gabroit phức hệ Núi Chúa tuổi Paleozoi muộn - Mesozoi sớm. Khoáng hoá titan thường phân bó trong lòng hoặc rìa các khối xâm nhập. Quặng thường tập trung ở phần đáy khối xâm nhập, nơi tiếp xúc hoặc gần tiếp xúc với đá trầm tích (mỏ Cây Trâm) tạo thành những thân quặng dạng vỉa đáy, hoặc phân bố ngay trong lòng các khối xâm nhập (hầu hết các điểm quặng còn lại). Trong các tích tụ khoáng loại hình này mới chỉ phát hiện mỏ Cây Trâm có hàm lượng giàu và đã được thăm dò đến trữ lượng cấp B, các điểm quặng khác mới chỉ nghiên cứu sơ bộ và dự báo tài nguyên.
-   Các thành tạo titan sa khoáng
+ Sa khoáng lục địa: sa khoáng titan lục địa mới chỉ phát hiện tại các vùng phân bố các thành tạo titan nguồn gốc magma. Hiên đã đăng ký được 5 điểm quặng sa khoáng: Quảng Đàm, Khao Quê, Sơn Đầu, Cổ Lãm và Yên Thế nhưng mới dừng lại ở mức độ phát hiện trong quá trình đo vẽ địa chất tỷ lệ 1:200.000 và 1:50.000. Ngoài các điểm quặng trên, xung quanh các điểm quặng, khoáng hoá gốc khác: Cây Châm, Hữu Sào, Đồng Gianh, Nà Hoè,… đều có những thung lũng chứa sa khoáng ilmenit chưa được đánh giá.
   Sa khoáng ven biển: sa khoáng ven biển là nguồn cung cấp titan chủ yếu hiện nay. Cho đến nay, dọc ven biển Việt Nam đã xác định được trên 50 mỏ, điểm quặng titan sa khoáng phân bố từ Quảng Ninh đến Bà Rịa – Vũng Tàu, nhưng tập trung chủ yếu ở vên biển từ Thanh Hoá đến Bình Thuận. Các sa khoáng titan ven biển phân bố sát ven bờ biển hoặc ven đảo, trong các bãi cát hoặc cồn cát nguồn gốc biển – gió tuổi Holoxen, thân quặng thường nằm lộ thiên hoặc dưới lớp cát phủ mỏng nên điều kiện khai thác rất thuận lợi. Hầu hết các mỏ đều có quy mô nhỏ, ít mỏ có quy mô trung bình hoặc lớn. Trong thành phần quặng ngoài ilmenit còn chứa các khoáng vật có ích khác: rutil, zircon, monazit,… với hàm lượng đáng kể.
   e- Trữ lượng quặng titan
   Theo số liệu điều tra, đến nay đã có 33 mỏ titan đã được tìm kiếm, thăm dò thuộc 13 tỉnh trên phạm vi cả nước. Trong số đó có 4 mỏ tính trữ lượng đến cấp A+B, 15 mỏ tính trữ lượng đến cấp C1, 11 mỏ tính trữ lượng đến cấp C2 và 3 mỏ mới dự báo tài nguyên cấp P1.
   Tổng trữ lượng ilmenit trong 33 mỏ nêu trên là 35.645.547,07 tấn. Trong các mỏ này, ngoài trữ lượng đã xác định còn một lượng tài nguyên khá lớn ilmenit đã dự báo cấp P1 là 71.131.672 tấn. Trữ lượng cấp A+B là 1.654.965,30 tấn chiếm 4,64% tổng trữ lượng; cấp C1 là 6.188.431,75 tấn chiếm 17,36% tổng trữ lượng; cấp C2 là 27.802.150,02 tấn chiếm 78% tổng trữ lượng.
   Theo quy mô mỏ, Việt Nam hiện có 1 mỏ lớn ( > 5 triệu tấn ilmenit) là mỏ Xuân Hải (Quảng Ninh); 6 mỏ thuộc loại trung bình (1-5 triệu tấn ilmenit) gồm: Cây Châm (Thái Nguyên); Cẩm Hoà, Kỳ Khang (Hà Tĩnh); Kẻ Sung (Quảng Trị); Mỹ Tho, Đề Gi (Bình Định). Số còn lại đều thuộc mỏ nhỏ.
   Các tỉnh có trữ lượng ilmenit lớn theo thứ tự là Quảng Ninh, Thái Nguyên, Hà Tĩnh, Bình Định, Thừa Thiên - Huế. Các tỉnh còn lại, trữ lượng ilmenit đã xác định đều dưới 1 triệu tấn.
   Tóm lại: Việt Nam là quốc gia có nguồn tài nguyên quặng titan khá lớn, đặc biệt hầu hết trữ lượng và tài nguyên loại quặng này tập trung trong sa khoáng ven biển có điều kiện khai thác rất thuận lợi. Quặng titan sa khoáng ven biển thường có hàm lượng khá cao, chất lượng quặng tốt, đi kèm với ilmenit còn có rutil, rircon, monazit với hàm lượng đáng kể. Việc khai thác titan kết hợp với khai thác thu hồi các sản phẩm có ích khác đã mang lại hiệu quản và lợi nhuận cao cho các doanh nghiệp khai thác. Với công nghệ khai thác, tuyển luyện ngày càng cao, hiện nay đã khai thác được các loại quặng hàm lượng thấp mà trước đây không được xem là thân quặng. Vì vậy, việc điều tra, đánh giá quặng sa khoáng ven biển là điều kiện cần thiết được ưu tiên. Hiện nay, nhu cầu sử dụng titan trên thế giới ngày càng cao, thị trường cung cấp quặng ngày càng khan hiếm, vì vậy nhà nước cần có quy hoạch tổng thể và quản lý chặt chẽ việc khai thác quặng titan nhằm tránh lãng phí tài nguyên và bảo vệ môi trường. Bên cạnh đó, cần đầu tư và khuyên khích để phát triển và nâng cao công nghệ chế biến sản phẩm tinh để tránh thiệt thòi về kinh tế.
Logged

Offlinedom

  • Newbie
  • *
  • default avatar
  • Bài viết: 43
    • Xem hồ sơ cá nhân
Re: Các loại khoáng sản, trữ lượng, hiện trạng khai thác và tiềm năng
« Reply #8 vào lúc: 03:28:41 pm , Ngày 16, Tháng Tám , năm 2009 »
  •  
VI. NHÔM

VI.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUẶNG NHÔM

a-   Khái quát chung
Nhôm, ký hiệu Al, là nguyên tố hoá học nhóm III hệ tuần hoàn Mendeleev, số thứ tự 13, khối lượng nguyên tử 26,891. Hàm lượng trong vỏ trái đất chiếm 8,8% khối lượng, là nguyên tố phổ biến thứ 3 trong vỏ trái đất sau oxy và silic.
Oxyt nhôm là vật liệu gốc chủ yếu trong ngành sản xuất nhôm, từ oxyt nhôm, người ta dùng phương pháp điện phân để lấy nhôm kim loại.
Các khoáng vật chủ yếu của nhôm để lấy oxyt nhôm là: diaspor HAlO2 (84,97% Al2O3), boemit  AlOOH (84,97% Al2O3), hydrargilit (gibsit) Al(OH)3 (65,4% Al2O3), nephelin Na[Al2SiO4] (31,7%Al2O3), leisit K[AlSi2O6] (23,5% Al2O3), alunit KAl3[SiO4]2.[OH]6 (37% Al2O3), caonilit Al4[Si4O10].[OH]8 (đến 10% Al2O3), silimanit Al[AlSiO5] (63,1% Al2O3), disten (kianit) Al2[SiO4]O (63,1% Al2O3), andalusit Al2[SiO4]O (63,1% Al2O3).

b-   Lĩnh vực sử dụng
Nhôm dễ dàng kết hợp với oxy và silic. Khi bị oxy hoà, trên bề mặt của nhôm nhanh chóng tạo thành một màng oxyt nhôm mỏng nhưng bền vững giữ cho kim loại khỏi tiếp tục oxy hoá chống hiện tượng ăn mòn. Nhôm bị tác dụng mạnh trong axit clohyrdic, tác dụng yếu trong axit sulfuric và không đáng kể trong axit nitric đậm đặc. Các axit hữu cơ không tác dụng với nhôm.
Nhôm và hợp kim của nhôm có những đặc tính kỹ thuật rất đáng quý như: độ nhẹ, độ bền vững, độ bền chống gặm mòn,… do đó nhôm được sử dụng rộng rãi trong ngành công nghiệp chế tạo máy bay, ô tô, xây dựng và chế tạo đầu máy toa xe đường sắt, trong cơ khí chế tạo máy và công nghiệp điện (để thay thế chì và đồng làm dây dẫn điện, vỏ bọc dây cáp, chốt máy biến áp, …). Một lượng lớn nhôm được dùng để sản xuất sơn, dụng cụ gia đình,… Các oxyt và hydroxyt nhôm được dùng chủ yếu trong sản xuất gạch chịu lửa, phèn, hoá phẩm, mỹ phẩm, dược phẩm.

c. Các kiểu mỏ công nghiệp
   Bauxit là loại quặng chủ yếu để lấy nhôm, ngoài bauxit người ta còn dùng cả các loại đá chứa nephelin và leisit, quặng alunit, đá phiến silimanit, kialit và andalusit, caolin.
   Bauxit là loại đá chủ yếu gồm các khoáng vật nhôm khác nhau: diaspor, boemit, hydrargilit. Trong thành phần của bauxit có một số ít oxyt và hydroxyt sắt, silic, oxyt titan, carbonat canxi, mage và các tạp chất khác.
   Các mỏ bauxit được thành tạo do các quá trình tạo quặng ngoại sinh, được phân  thành hai kiểu nguồn gốc chính:
   - Mỏ phong hoá: bauxit là sản phẩm tàn dư của quá trình phong hoá các đá alumosilicat trong điều kiện khí hậu nhiệt đới ẩm có các mùa khô. Thân quặng có dạng chuông úp và chuyển dần từ quặng sang đá. Tuổi địa chất của các mỏ khác nhau.
   - Mỏ trầm tích: là nhóm mỏ phổ biến nhất và quan trọng nhất về mặt công nghiệp của bauxit.
   Các kiểu nguyên liệu nhôm khác có điều kiện thành tạo rất khác nhau:
   - Đá nephelin công nghiệp gặp dưới dạng các khối lớn dạng cán, dạng đai cơ, đôi khi dạng nấm liên quan với đá kiềm, có cả quan hệ với đá magma mafic, siêu mafic lẫn magma axit.
   - Các tích tụ alunit gặp trong các miền đá phun trào, trong các đới quarzit thứ sinh, trong các hệ tầng chứa than, trong đới oxy hoá của các mỏ sulfur. Các mỏ alunit thành tạo trong các đới hoạt động núi lửa trẻ có giá trị công nghiệp lớn nhất.
   - Trong nhiều trường hợp disten, silimanit và andalusit được thành tạo do quá trình biến chất sâu của alumosilicat và trước hết là của đá phiến sét. Đá disten đơn khoáng liên quan với các quá trình khí thành. Các mỏ andalusit thường liên quan với đới quarzit thứ sinh, ở đây chúng thường gặp cùng với các tích tụ diaspor, corindon và hình thành ra các vùng tích tụ đồng tâm.

   d- Nhu cầu thị trường quặng nhôm
   Lượng nhôm tiêu thụ hàng năm trên thế giới khoảng trên dưới 20 triệu tấn. Các nước tiêu thụ lớn nhất là Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc. Một số nước ASEAN có nhu cầu tiêu thụ nhôm đáng kể như: Thái Lan 200 nghìn tấn/năm, Indonesia 150 nghìn tấn/năm, Malayxia 100 nghìn tấn/năm, Philipin 50 nghìn tấn/năm, Singapo 40 nghìn tấn/năm.
   Trong thập kỷ qua, nhu cầu nhôm giảm từ 40% còn  trên 30% tổng nhu cầu toàn cầu do các nước Đông Âu và Liên Xô tiêu thụ giảm.
   Các nước xuất khẩu nhôm chủ yếu là Canada, Nga, Australia, Nauy, Brazil. Các nước nhập khẩu nhôm chủ yếu là Nhật Bản, Mỹ, Đức.
   Khoảng 90% alumin được dùng để luyện nhôm nên thị trường alumin phụ thuộc vào sản xuất nhôm. Sản lượng alumin của thế giới hiện nay khoảng 47 - 50 triệu tấn/năm. Các nước sản xuất nhôm hàng đầu thế gới là: Australia (30%), Mỹ (12%), Jamaica (7,5%), Trung Quốc (6%), Brazil (6%).
   Tổng nhu cầu alumin cho luyện nhôm của thế giới hiện nay khoảng 42 triệu tấn. Các nước có nhu cầu nhập khẩu alumin đáng kể là Trung Quốc 1 - 1,5 triệu tấn/năm, Liên Xô 2 - 2,5 triệu tấn/năm, Bắc Mỹ 6 - 7 triệu tấn/năm. Các nước xuất khẩu alumin chủ yếu là: Australia, Jamaica, Ấn Độ.
   Trong thập niên vừa qua, giá nhôm trên thị trường thay đổi, mức giá trung bình trên thị trường chỉ đạt trên 1300 USD/tấn. Dự báo giá nhôm  năm 2010 sẽ đạt 1900 USD/tấn.

VI. 2 Khoáng sản bauxit Việt Nam
   a- Khái quát về đặc điểm phân bố
   Quặng bauxit là nguồn nguyên liệu sản xuất nhôm và dùng trong các ngành công nghiệp khác ở Việt Nam. Các mỏ, điểm quặng bauxit phân bố rải rác ở nhiều tỉnh từ miền Bắc đến Nam Trung Bộ, tập trung chủ yếu ở một số tỉnh sau:
-   Khu vực Tây Bắc Bộ: Lai Châu, Điện Biên
-   Khu vực Đông Bắc Bộ: Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Hải Dương.
-   Khu vực Nam Trung Bộ: Quảng Ngãi, Kon Tum, Gia Lai, Phú Yên, Đăk Nông, Lâm Đồng.
Trong đó, bauxit có nguồn gốc phong hoá từ đá bazan chiếm trữ lượng chủ yếi và tập trung hầu hết ở tỉnh Đăk Nông.
c-   Mức độ điều tra
Nhìn chung, mức độ điều tra quặng bauxit ở Việt Nam còn thấp. Đến nay đã có 40 mỏ, điểm quặng đã được tìm kiếm đánh giá và thăm dò. Trong số đó, chỉ có 8 mỏ đã được thăm dò thuộc phạm vi tỉnh Lạng Sơn, Lâm Đồng và Đăk Nông. Số mỏ còn lại mới ở mức độ tìm kiếm, đánh giá. Có thể phân các mỏ bauxit ra 3 mức độ điều tra sau:
- Tìm kiếm, đánh giá:gồm các mỏ Căn Cơ (Lai Châu); Mường Mùn (Điện Biên); Chang Loung, Hồng Ngài, Tà Lủng, Lũng Phìn, Mèo Vạc, Lũng Pu, Tùng Vài (Hà Giang); Nà Sác, Nhi Tảo, Lũng Rì, Thiềng Ngoạ, Lũng Luông, Lũng Kính, Chắm Ché, Táp Lá, Quảng Hoà (Cao Bằng); Lỗ Sơn (Hải Dương); An Điềm, Núi Thiên Ấn - Núi Thình (Quảng Ngãi); Măng Đen (Kon Tum); Kon Hà Lừng (Gia Lai); An Hoà, Vân Hoà (Phú Yến); Đăk Song, Đăk Rung, Quảng Sơn, Gia Nghĩa, Nhân Cơ, Đạo Nghĩa (Đăk Nông).
   - Thăm dò sơ bộ: các mỏ Bắc Sơn (Lạng Sơn); Tân Rai (Lâm Đồng).
   - Thăm dò tỷ mỉ: các mỏ Mã Mèo, Tam Lung, Khon Pích, Bắc Sơn (Lạng Sơn); mỏ 1-5 (Đăk Nông); Đồi Thắng Lợi (Lâm Đồng).
   Hiện nay, mỏ bauxit Gia Nghĩa (Đăk Nông) đang được Tập đoàn Than và Khoáng sản Việt Nam thăm dò.
d-   Hiện trạng khai thác, sử dụng
Từ lâu, quặng bauxit ở Việt Nam đã được khai thác, sử dụng. Năm 1937 đến năm 1943 khai thác ở mỏ Lỗ Sơn (Hải Dương) và Bản Lòng (Lạng Sơn) với số lượng khoảng vài chục nghìn tấn. Năm 1960 mỏ bauxit Lỗ Sơn được khai thác lại ở Lỗ Sơn. Năm 1976 bắt đầu khai thác bauxit ở Bảo Lộc (Lâm Đồng). Từ năm 1979 đến năm 1982 khai thác mỏ Thiên Ấn (Quảng Ngãi), từ 1988 đến 1989 khai thác mỏ Núi Thành (Quảng Ngãi). Số lượng quặng đã khai thác và tuyển luyện từ 1960 đến 1993 khoảng trên 200 nghìn tấn bauxit.
Hiện nay, bauxit vẫn được tiếp tục khai thác ở Lạng Sơn để làm phụ gia xi măng với sản lượng thấp. Bauxit ở Lỗ Sơn tiếp tục được khai thác làm đá mài. Mỏ Bảo Lộc do Tổng công ty hoá chất khai thác, tuyển 16.000 - 20.000 tấn/năm tinh quặng 49% Al2O3 cho sản xuất phèn và đá mài.
Tập đoàn than Việt Nam đang hoàn thiện báo cáo tiền khả thi khai thác bauxit Tân Rai để xây dựng nhà máy luyện nhôm ở khu vực này. Khu mỏ Gia Nghĩa đang được thăm dò để liên doanh khai thác và tuyển luyện.
e-   Các loại hình mỏ bauxit công nghiệp
Các mỏ bauxit ở Việt Nam thuộc hai loại hình nguồn gốc: trầm tích và phong hoá. Trong đó loại hình phong hoá có quy mô, trữ lượng chủ yếu.
   - Bauxit nguồn gốc trầm tích
   Các mỏ bauxit nguồn gốc trầm tích đề tập trung ở miền Bắc Việt Nam và có tuổi Permi muộn. Trong đó, các mỏ tập trung chủ yếu ở các tỉnh Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn; ngoài ra còn phân bố rải rác ở các tỉnh Lai Châu, Điện Biên, Hải Dương. Thân quặng có dạng vỉa đứt đoạn, thấu kính. Thành phần khoáng vật chủ yếu là gipsit, diaspor, boemit, hematit, kaolinit, chlorit,…
   Hàm lượng quặng: Al2O3 36,00 - 71,15%; Si2O3 3,36 - 24,20%. Trong quặng bauxit thường có cả alit.
   - Bauxit trong vỏ phong hoá đá bazan
   Các mỏ bauxit phát triển trong vỏ phong hoá của đá bazan chỉ có giá trị ở miền Nam Việt Nam. Ở miền Nam các thành tạo bazan phát triển khá rộng rãi, nhưng chỉ có vỏ phong hoá nhiệt đới ẩm các đá bazan lộ trên mặt thuộc hệ tầng Đại Nga (N2 - QI đn) và Túc Trưng (N2 - QI tt) là có bauxit laterit. Mọi tích tụ laterit có giá trị kinh tế đều được phát hiện ở vỏ phong hoá bazan tholeit tuổ Plioxen - Pleistoxen, chủ yếu tập trung ở ba mức độ cao 2500 - 2950, 1000 - 1100m và 600 - 900m. Bề dày của vỏ phong hoá bazan đạt tới 60 m, trong đó đới bauxit laterit có chiều dày 1- 15m. Các mỏ bauxit laterit tập trung chủ yếu ở tỉnh Đăk Nông, ít hơn là tỉnh Lâm Đồng, ngoài ra còn rải rác ở các tỉnh Gia Lai, Kon Tum, Phú Yên.
   Thân quặng có dạng lớp phủ, bở rời. Thành phần của quặng bauxit laterit: al2O3 30,0-54,5%, SiO2 chủ yếu 5 - 10%, Fe2O3 25 - 29%, TiO2 4 - 5%, MKN 21 - 23%. Thành phần khoáng vật của bauxit gồm: gipsit 50-60%, alumogoetit, goetit, hematit, kaolinit, ilmenit, anatas.
f-   Trữ lượng quặng bauxit
Đến nay, đã có 40 mỏ bauxit đã được tìm kiếm, đánh giá và thăm dò nằm trên phạm vi 12 tỉnh. Trong đó, có 8 mỏ đã được tính trữ lượng đến cấp A+B và tập trung chủ yếu ở tỉnh Lạng Sơn, Đăk Nông và Lâm Đồng; có 9 mỏ đã tính trữ lượng đến cấp C1 và tập trung chủ yếu ở tỉnh Hà Giang, Cao Bằng, Quảng Ngãi, Phú Yên; số mỏ còn lại mới tính trữ lượng tới cấp C2, một số điểm mỏ mới chỉ dự báo tài nguyên P1.
Tổng trữ lượng bauxit ở Việt Nam đến nay là 4.643.831.107,55 tấn. Trong đó trữ lượng cấp A+B là 51.785.505,20 tấn chiếm tỷ lệ 1,12%; trữ lượng cấp C1 là 263.798.342,20 tấn chiếm 5,68%; trữ lượng cấp C1 là 4.328.247.360,20 tấn chiếm 93,20%. Trữ lượng cụ thể từng mỏ, từng tỉnh được tổng hợp trong bảng tổng hợp tài nguyên trữ lượng bauxit dưới đây (xem bảng).
Theo quy mô mỏ, Việt Nam hiện có 8 mỏ xếp vào loại mỏ lớn gồm: Đăk Song, Đăk Rung, Quảng Sơn, Gia Nghĩa, Nhân Cơ, Đạo Nghĩa, 1-5 (tỉnh Đăk Nông); Tân Rai (Lâm Đồng); 4 mỏ quy mô trung bình gồm: Mèo Vạc (tỉnh Hà Giang), Mã Mèo, Tam Lung (tỉnh Lạng Sơn), Măng Đen (tỉnh Kon Tum); số còn lại thuộc loại mỏ nhỏ. Các mỏ có quy mô lớn chủ yếu tập trung ở tỉnh Đăk Nông, thuộc loại hình phong hoá. Tuy nhiên, mức độ điều tra của hầu hết các mỏ lớn còn thấp (mới tính trữ lượng đến cấp C2).
Tỉnh có trữ lượng bauxit lớn nhất là tỉnh Đăk Nông (chiếm 91,67% tổng trữ lượng quốc gia), tiếp đến là các tỉnh Lâm Đồng, Lạng Sơn, Hà Giang, Kon Tum, Cao Bằng. Các tỉnh khác trữ lượng không đáng kể.
Tóm lại: Việt Nam có trữ lượng, tài nguyên bauxit lớn, chủ yếu là loại hình phong hoá từ đá bazan và tập trung chủ yếu ở Đăk Nông, Lâm Đồng với quy mô mỏ lớn. Chất lượng bauxit Việt Nam ở mức trung bình đến tốt, điều kiện khai thác thuận lợi, đặc biệt là loại hình phong hoá. Vì vậy, nhà nước cần có quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến quặng bauxit ở cấp quy mô lớn ở các tỉnh Đăk Nông và Lâm Đồng để phục vụ phát triển kinh tế đất nước.
Logged

Offlinedom

  • Newbie
  • *
  • default avatar
  • Bài viết: 43
    • Xem hồ sơ cá nhân
Re: Các loại khoáng sản, trữ lượng, hiện trạng khai thác và tiềm năng
« Reply #9 vào lúc: 03:33:22 pm , Ngày 16, Tháng Tám , năm 2009 »
  •  
VII. VÀNG
VII.  KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUẶNG VÀNG
a-Khái quát chung
Vàng, ký hiệu Au, là nguyên tố hoá học nhóm I bảng tuần hoàn mendeleev,số thứ
tự 79, khối lượng nguyên tử 196,967, hàm lượng trong vỏ quả đất chiếm 4,3.10-7 % khối lượng.
   Trong tự nhiên, vàng gặp chủ yếu ở dạng tự sinh, nhưng thực tế không khi nào có loại vàng sạch về mặt hoá học. Độ sạch của vàng ở các mỏ thay đổi từ 700 đến 990.Vàng có mặt ở dạng các vi bao thể, ở trạng thái phân tán mịn trong nhiều sulfur và sulfur- asenur mà chủ yếu là các sulfur Fe,Cu, As, Ag, Sb. Những trạng thái oxy hoá chủ yếu của vàng là Au hoá trị 1 và 3.
   Những khoáng vật chủ yếu chứa vàng là vàng tự sinh, electrum, calaverit, endonit, krennorit, silvanit, petzit, hagyagit, pisatearit. Vàng tự sinh kết tinh ở hệ lập phương nhưng ít khi gặp các tinh thể thành tạo hoàn chỉnh, chiếm ưu thế là các hạt không đều đặn, rìa hạt lồi lõm, đôi khi có dạng sợi kéo dài.
   Tuổi của vàng là số phần trọng lượng của vàng sạch về mặt hoá học trong 1000 phần vàng tự sinh hay hợp kim vàng.
   b. Lĩnh vực sử dụng:
   Vàng là kim loại dễ dát mỏng và kéo dài nhất so với tất cả các kim loại khác. Vàng không hoá hợp với oxy, hydro, nitơ và cacbon ngay cả khi nhiệt độ cao nhất. Vàng chỉ hoà tan trong axit selenic (H2Se04), trong nước cường toan và trong xienuar kiềm. Vàng có độ dẫn điện cao, là thành phần của nhiều hợp kim mà nhiệt độ nóng chảy của chúng thấp hơn, còn độ cứng lại cao hơn vàng.
   Ngày nay, vàng chủ yếu được dùng để chế tác đồ trang sức và là đối tượng tích trữ thay tiền tệ. Vàng cũng được ứng dụng nhiều trong các ngành kỹ thuật cao.
   c. Các kiểu mỏ công nghiệp
   Vàng là thành phần của nhiều mỏ quặng có nguồn gốc khác nhau, nhưng các mỏ sa khoáng và nhiệt dịch có giá trị công nghiệp lớn nhất. Các mỏ chứa vàng được chia ra các kiểu nguồn gốc sau:
- Mỏ nhiệt dịch nhiệt độ cao thuộc thành hệ arsenopyrit vàng. Đá vây quanh là các khối granit và đá biến chất tiền cambri hay paleozoi, các mạch quặng có dạng bất kỳ, dạng sâu chuỗi. Vàng thường liên quan cộng sinh với thạch anh mạch và sulfur (pyrit, arsenopyrit, quặng đồng xám, chalcopyrit, đôi khi với galenit và các sulfur khác).
- Mỏ nhiệt dịch nhiệt độ trung bình: Đá vây quanh là granittoit tuổi Mesozoi -Kainozoi, paleozoi hoặc đá mái của granitoit. Thân quặng là các mạch ổn định đều đặn. Chiều dài các mạch thay đổi  lên tới trên 2km, độ sâu tồn tại quặng tới vài trăm mét, dày 0.5m đến 3m, các đoạn đạt giá trị công nghiệp vàng thường có dạng cột, dạng ổ. Thành phần quặng vàng: thạch anh, carbonat, barit, pyrit, chalcopyrit, sphalerit, galenit, quặng đồng xám, vàng ở dạng tự sinh hoặc ở dạng tạp chất trong sulfur.
-   Mỏ nhiệt dịch nhiệt độ thấp: liên quan chặt chẽ với hoạt động núi lửa Anpi,
gồm các mạch và đới mạng mạch của quặng bạc - vàng được thành tạo ở nông. Quặng hoá không đều, dạng chùm. Thành phần quặng vàng: thạch anh dạng chalcedon, calcit, rodochrosit, barit, adula, các sulfur thường, vàng chứa bạc và đôi khi hợp chất telur vàng.
- Các vỉa cuội kết và dăm kết bị biến đổi nhiệt dịch chứa vàng. Điển hình là mỏ cuội kết ở mỏ vitratecsranzơ ở Nam Phi, là mỏ vàng lớn nhất thế giới hiện nay, cung cấp gần một nửa số vàng khai thác trên thế giới.
- Các mũ sắt và chì là đới oxy hoá của các mỏ pyrit, chalcopyrit và đa kim. Các mỏ này có thể có giá trị công nghiệp như các mỏ quặng vàng cả trong trường hợp khi hàm lượng vàng trong quặng sulfur nguyên sinh không đạt hàm lượng công nghiệp.
-   Sa khoáng vàng: vàng có độ bền hoá học cao trong điều kiện tự nhiên và có tỷ
trọng lớn nên thuận lợi để tích tụ trong các trầm tích bở rời tạo thành các sa khoáng vàng công nghiệp. Các sa khoáng vàng gồm các kiểu: eluvi, deluvi, aluvi có giá trị vô cùng lớn gồm: doi cát lòng sông, thung lũng và thềm.
- Vàng trong sa khoáng thường phân bố trong tầng dưới của các lớp chứa sản phẩm và ở trong phần bị phá huỷ của đáy sa khoáng.
d. Nhu cầu và thị trường của vàng:
   Quan hệ cung cầu vàng trên thế giới không chỉ phụ thuộc vào lượng tiêu dùng mà còn phụ thuộc lượng dự trữ vàng của mỗi quốc gia và các biến động khác như khủng hoảng  kinh tế, chiến tranh, thiên tai, ....

Những nước đứng đầu trên thế giới về sử dụng vàng trong công nghiệp (kim hoàn, điện tử,…) là Ấn Độ (14-19%), Italia (14-15%), Mỹ (4-7%), Trung Quốc (5-7%), Nhật Bản (4-6%). Những nước đứng đầu thế giới về sử dụng vàng trong kim hoàn là Ấn Độ (20%), Italia (16%), Mỹ (6%), Trung Quốc (6%), Arậpxeut (5%).
- Trong khu vực thì những nước tiêu thụ vàng cho công nghiệp và kim hoàn
đáng kể là Inđonexia, Malaysia, Hàn Quốc, Đài Loan. Giá vàng trên thế giới biến động lớn. Trong ba thập niên qua, kể từ khi Mỹ huỷ bỏ quy định 35USD đổi đuợc một ounce vàng (15/8/1970) và đóng cửa kho vàng nhà nước thì giá vàng trên thế giới tăng mạnh. Giá vàng năm 1972 đạt 66,98 USD/ounce đến tháng 8 /1978 lên 200USD/ounce, tháng 8/1979 là 300USD/ounce và đầu năm 1980 đạt kỷ lục 850USD/ounce. Nhờ sự can thiệp của các quốc gia và các ngân hàng hàng đầu thế giới nên đến giữa năm 1980 giá vàng chững lại và hạ chỉ còn 279USD/ounce. Từ năm 1981 đến năm 2000, giá vàng dao động từ 300-460USD/ounce.
Trong 5 năm trở lại đây, đặc biệt từ cuối năm 2001 giá vàng liên tục tăng từ 275USD/ounce (tháng 5/2001) lên 450USD/ounce (tháng 9/2005). Từ tháng 10/2005 đến tháng 4/2006 giá vàng liên tục tăng mạnh tới 655,5USD/ounce (tháng 4/2006). Một số nguyên nhân chính dẫn đến giá vàng tăng là:
-   Cầu vượt cung ở phương đông. Một trường phái cho rằng nhu cầu vàng ở Trung Quốc và Ấn Độ tăng nhanh trong mùa cưới, trong khi nguồn cung ở các nước xuất khẩu vàng hàng đầu lại giảm là nguyên nhân đẩy giá vàng lên cao.
-   Phương tây lo sợ lạm phát: giới phân tích cho rằng giá vàng cao là do dân phương Tây đầu tư ồ ạt vào vàng, lo sợ lạm phát sẽ cao hơn dự báo của chính phủ nước mình.

VII.2. Khoáng sản vàng ở Việt Nam.
a.   Khái quát về đặc điểm phân bố:
Khoáng sản vàng phân bố rộng rãi trên lãnh thổ Việt Nam. Hiện đã biết trên 500 mỏ và điểm quặng vàng, nhưng hầu hết thuộc loại mỏ nhỏ và điểm quặng . Ngoại trừ một số tỉnh Nam bộ , các mỏ và điểm quặng vàng phân bố rải rác ở các tỉnh từ Đồng Nai trở ra. Đến nay, đã có 80 mỏ, điểm quặng đã được tìm kiếm, thăm dò với các mức độ khác nhau ở phạm vi 29 tỉnh trong cả nước. Trong đó, các tỉnh có số lượng mỏ, điểm quặng được tìm kiếm, thăm dò nhiều nhất là Quảng Nam (16 mỏ), Nghệ An (7mỏ), Hoà Bình (5mỏ), Bắc Kạn (4 mỏ)…
b.   Mức độ điều tra:
Số lượng các mỏ, điểm quặng vàng đã  đuợc tìm kiếm , đánh giá và thăm dò là 80,chiếm gần 20% số mỏ, điểm quặng đã phát hiện trên phạm vi cả nước. Công  tác điều tra, phát hiện khoáng sản vàng đã đựơc tiến hành từ những năm 1960, sau đó đã được nhà nước quan tâm để tìm kiếm, đánh giá, thăm dò đặc biệt là sau năm 1990. Tuy nhiên , do sự phân bố của quặng phức tạp, quy mô quặng nhỏ nên phần lớn mức độ điều tra chỉ dừng ở giai đoạn tìm kiếm, đánh giá . Theo tài liệu đến nay, trong số các mỏ đã được tìm kiếm, đánh giá thăm dò có thể chia ra 2 mức độ điều tra:
    Thăm dò sơ bộ: đã có tổng số 13/80 mỏ, điểm quặng thuộc mức độ điều tra này. Bao gồm  các mỏ: Nam Quang (Cao Bằng), Ngọc Hội (Tuyên Quang), Bồ Cu, Trại Cau (Thái Nguyên), Chợ Bến (Hoà Bình), Tà Sỏi (Nghệ An), Xà Khía (Quảng Bình), Suối Giây, Tam Chinh, Đak Sa, Phước Hiệp(Quảng Nam), Trà Năng (Lâm Đồng), Suối Linh (Đồng Nai). Trong các mỏ này đã tính trữ lượng vàng đến cấp C1. Tuy nhiên , tỷ lệ trữ lượng trên tổng tài nguyên ở các mỏ rất thấp.Ngoại trừ mỏ Đak Sa có trữ lượng C1 trên 3 tấn  thì các mỏ còn lại có trữ lượng C1 rất ít dưới 1 tấn, thậm chí vài chục kg.
- Tìm kiếm, đánh giá: Đã có 67 mỏ, điểm quặng được tìm kiếm đánh giá trên phạm vi cả nước. Tuy nhiên , trong số đó chỉ có 41 mỏ tính được trữ lượng cấp C2, số còn lại chỉ tính đến tài nguyên P1. Trữ lượng C2 trong các mỏ đã tìm kiếm, đánh giá chỉ có mỏ Minh Lương (Lào Cai), Ngọc Hội (Tuyên Quang), trên 5 tấn, số còn lại đều nhỏ, chủ yếu dưới 1 tấn.
c.   Hiện trạng khai thác sử dụng:
Có thể nói, hầu hết các điểm quặng vàng đã phát hiện ở nước ta đều đã và đang được khai thác với các hình thức khác nhau. Trong đó, việc khai thác tự do, thủ công phổ biến rộng rãi rất khó quản lý, không kiểm soát được. Việc khai thác một mặt gây lãng phí  tài nguyên môi trường nhưng đặc biệt hơn là gây ảnh hưởng lớn đến môi trường sinh thái. Theo thống kê không đầy đủ , sản lượng vàng khai thác hàng năm của các doanh nghiệp nhà nước khoảng 250-300kg.Vàng khai thác chủ yếu sử dụng để trao đổi, dự trữ và làm đồ trang sức.
d.   Các loại hình quặng hoá vàng.
Khoáng sản vàng được chia làm hai loại: vàng sa khoáng và vàng gốc.
-   Vàng sa khoáng: phân bố ở rất nhiều nơi. Đến nay đã phát hiện được khoảng 150 mỏ và điểm quặng sa khoáng vàng, trong đó có 30 mỏ, điểm quặng đã được tìm kiếm, thăm dò.
-   Sa khoáng vàng ở Việt Nam có trữ lượng nhỏ. Ngoài mỏ vàng Lương Thượng (Bắc Kạn) thuộc loại quy mô lớn (trữ lượng C2=1,42 tấn) và các mỏ Bồ Cu, Trại Cau (Thái Nguyên) thuộc loại quy mô trung bình (trữ lượng C1+C2 = 0,51 tấn) thì các mỏ còn lại đều có trữ lượng nhỏ, chủ yếu vài chục kg. Hàm lượng vàng trong các mỏ, điểm quặng thường thấp, chủ yếu <1g/m3. Chiều dày tầng sản phẩm 0.5-3m, lớp phủ thay đổi từ 15m, có nơi đến 15m.
-   Các kiểu nguồn gốc sa khoáng vàng gồm:eluvi, proluvi, hỗn hợp karst và aluvi. Trong đó, đáng chú ý nhất là loại hình sa khoáng aluvi, thường gặp các trầm tích ở những bậc thềm khác nhau và trong các trầm tích  ở lòng sông.
-   Vàng gốc: khoáng hoá vàng gốc ở Việt Nam phát triển rộng rãi trên toàn bộ phần đất liền thuộc nguồn gốc nhiệt dịch và chúng phân bố ở các kiến trúc dạng vòm, vòm nông, trong các võng núi lửa, hoặc nằm rải rác dọc theo các đứt gãy sâu khu vực. Vàng gốc gồm nhiều kiểu quặng hoá khác nhau:
+   Kiểu quặng hoá vàng - thạch anh: gồm 2 phụ kiểu:
Quặng hoá vàng - thạch anh -  ít sulfur: đã phát hiện được ở nhiều nơi, điển hình là ở Khau Âu, Bồ Cu (Thái Nguyên), Cẩm Thuỷ (Thanh Hoá), Tam Chinh (QuảngNam)…
Quặng hoá vàng - thạch anh- turmalin: Kiểu quặng này hiện mới chỉ phát hiện được ở mỏ Làng Vùng (Phú Thọ).
+ Kiểu quặng hoá vàng - thạch anh -  sulfur: Kiểu này phát triển rất đa dạng và phong phú, có mặt ở các bối cảnh địa chất khác nhau.
Quặng hoá vàng - thạch anh - sulfur trong trầm tích phun trào axit trũng nguồn rift tuổi Mesozoi gồm các mỏ: Pắc Lạng (Bắc Kạn), Nà Pái (Lạng Sơn), Khe Máng (Hà Tĩnh), Khe Đập, Khe Mang (Quảng Bình).
Quặng hoá vàng - thạch anh - sulfur trong đá trầm tích - phun trào bazan - trachyt hệ tầng Viên Nam (T1ivn) gồm các mỏ Đồi Bù, Cao Răm (Hoà Bình) Thèn Sin (Lai Châu)
Quặng hoá vàng - thạch anh - sulfur  phát triển trong các đá biến chất phát triển rộng rãi ở các tỉnh miền Trung trong phạm vi đới Đà Nẵng - Sê Pôn như: ADang, Avao, APey (Quảng Trị), Suối Giây, Bồng Miêu, Trà Dương (Quảng Nam) và một số điểm quặng Phú Ninh, Khe Lạnh (Thừa Thiên - Huế).
Quặng hoá vàng - thạch anh - sulfur  phát triển trong các đá xâm nhập có thành phần phân dị từ mafic đến axit phát triển rộng rãi trong các diện tích chứa các đá xâm nhập như: Bản Gôn (Thừa Thiên - Huế), Tiên Hà (Quảng Nam)Tiên Thuận (Bình Định), Sông Hinh (Phú Yên).An Trung, Iameur (Gia Lai).
+ Kiểu quặng hoá vàng - bạc: Kiểu quặng này có triển vọng đáng kể. Đến nay đã phát hiện được nhiều điểm quặng và khoáng hoá vàng có quan hệ chặt chẽ về mặt không gian với đá phun trào có thành phần axit đến trung tính, kiểu phun nổ trong hệ tầng Long đại (03-S1 lđ). Điển hình cho kiểu này là mỏ Xà Khía (Quảng Bình), ngoài ra còn một số điểm quặng Rào Reng, Khe Chứa, vùng Vit Thu Lu…
Kiểu quặng hoá vàng - antimon; Quặng hoá vàng - antimon có ở các mỏ antimon chứa vàng, có khi vàng có trữ lượng lớn và có giá trị. Điển hình cho kiểu quặng này là mỏ Làng Vài, Khuôn phục, Hoà Phú, Ngọc Hội (Tuyên Quang), Nam Sơn (Hoà Bình), Tà Sỏi ( Nghệ An).
+ Kiểu quặng vàng cộng sinh trong các loại khác: bao gồm các mỏ đa kim chì - kẽm chứa vàng ở vùng Chợ Rã, Ngân Sơn, tây PiaOăc, Nghệ An, Tú Lệ, Hoà Bình…, Các mỏ Pyrit chứa vàng (concheđon, lưu huỳnh chứa vàng) ở Tây Bắc Bộ như Vọ Cỏ, Làng Củ, Minh Quang …, mỏ đồng chứa vàng như Sinh Quyền (Lao Cai).

e.   Trữ lượng vàng:
Trong tổng số 80 mỏ, điểm quặng  vàng ở Việt Nam được tìm kiếm, thăm dò có13 mỏ tính đến trữ lượng cấp C1, 40 mỏ tính đến trữ lượng cấp C2, số còn lại chỉ xác định tài nguyên cấp P1. Tổng trữ lượng cấp C1+C2 là 75,539 tấn Au, trong đó cấp C1= 6,391 tấn chiếm 8,46%  tổng trữ lượng cấp C1+C2 và tập trung chủ yếu ở tỉnh Quảng Nam (4,071 tấn).
Theo quy mô mỏ, đến nay ở Việt Nam chỉ có mỏ vàng sa khoáng Lương Thượng (Bắc Kạn) thuộc loại quy mô lớn. Các mỏ có quy mô trung bình gồm: loại hình sa khoáng có Bồ Cu, Trại Cau (Thái Nguyên), loại hình quặng gốc có 5 mỏ Minh Lương ( Lào Cai), Ngọc Hội (Tuyên Quang), Đak Sa, Phước Hiệp, Phước Thành (Quảng Nam). Số còn lại có quy mô nhỏ và điểm quặng.
Tỉnh có trữ lượng vàng lớn nhất  là Quảng Nam: 23,615 tấn C1+C2 chiếm 30,26%, tiếp đến là các tỉnh Tuyên Quang, Lai Châu, Quảng Trị, Phú Yên, Hoà Bình, Quảng Bình, Bắc Kạn. Các tỉnh còn lại có trữ lượng không đáng kể.

Tóm lại: Với các tài liệu địa chất hiện có cho thấy Việt Nam có nhiều điểm quặng, điểm khoáng hoá vàng phân bố rộng rãi trên nhiều tỉnh của đất nước với nhiều kiểu khoáng hoá khác nhau. Quy mô các mỏ nhỏ, hàm lượng vàng hầu hết thấp , thân quặng biến đổi rất phức tạp. Hầu hết các mỏ, điểm quặng đều đã được khai thác với mọi hình thức nên việc xác định hiện trạng tài nguyên khoáng sản vàng rất khó chính xác, công tác đánh giá chính xác trữ lượng còn lại ở các mỏ gần như không thực hiện được.
Logged

Offlinedom

  • Newbie
  • *
  • default avatar
  • Bài viết: 43
    • Xem hồ sơ cá nhân
Re: Các loại khoáng sản, trữ lượng, hiện trạng khai thác và tiềm năng
« Reply #10 vào lúc: 03:35:41 pm , Ngày 16, Tháng Tám , năm 2009 »
  •  
VIII. BẠC

VIII.1. Khái quát chung về quặng bạc.
a.   Khái quát chung:
Bạc, ký hiệu Ag, là nguyên tố hoá học có số thứ tự 47, thuộc nhóm I hệ tuần hoàn Mendeleev, khối lượng nguyên tử 107,868, hàm lượng trung bình trong vỏ trái đất
1.10-5% trọng lượng.
   Ở điều kiện bình thường bạc không hoá hợp với oxy. Bạc dễ hoà tan trong axit nitoric và axit sulfuric nóng, đậm đặc. Cùng với các kim loại nặng khác, bạc tạo ra hợp kim. Bạc có thể dát được thành tấm cực mỏng.
   Trong tự nhiên, bạc thường có mặt trong quặng đa kim, đồng, vàng ở trạng thái phân tán và được thu hồi khi khai thác, chế biến các loại quặng này.
   Các khoáng vật chứa bạc gồm trên 50 khoáng vật, nhưng chỉ có một số khoáng vật có giá trị là: bạc tự sinh (90100% Ag), argentit Ag2S (87,1% Ag), discrasit Ag2Sb (72,884,3%Ag), keracgirit Agcl (75,2% Ag), stefanit 5Ag2S.Sb2S3 (65,4%Ag), polibasit 9Ag2S.Sb2S3(64,7% Ag), pyrargirit Ag3SbS3 (60% Ag), stromeierit (Ag, Cu)2S (51.3% Ag) và quặng đồng xám chứa bạc.
b.   Lĩnh vực sử dụng
Bạc được dùng làm hợp kim đúc tiền, làm đồ trang sức, dụng cụ y học, làm thuốc sát trùng, đồ dùng gia đình, tranh sơn mài, trong nhiều chi tiết máy, công nghiệp, điện ảnh, sản xuất pin mặt trời,…
c.   Các kiểu mỏ công nghiệp.
Các mỏ bạc thực thụ có giá trị công nghiệp là kiểu mỏ gồm các mạch và đới mạch quặng bạc ở trong các loại đá khác nhau có ở Mehicô. Hàm lượng bạc tối thiểu trong loại quặng này là 0,040,05 % Ag.
Hầu hết bạc thường đi kèm trong các mỏ quặng đa kim, đồng, vàng dưới dạng bạc tự sinh và trong các khoáng vật khác nhau như: vàng, các khoáng vật chứa đồng, chì, antimon,…

VIII.2.Khoáng sản bạc ở Việt Nam.
a.   Khái quát về đặc điểm phân bố.
Ở Việt Nam  chưa phát hiện được mỏ bạc thực thu, bạc thường đi kèm với các loại quặng khác: chì-kẽm, đồng, vàng, niken - coban,… vì vậy, sự phân bố của khoáng sản bạc gắn liền với sự phân bố các mỏ khoáng sản này.
b.   Mức độ điều tra:
Do bạc là khoáng sản đi kèm trong các mỏ khoáng sản khác nên nó được đánh giá như một khoáng đi kèm với khoáng sản chính. Nhìn chung, đến nay việc đánh giá bạc mới chỉ được tiến hành ở một số mỏ chì - kẽm, antimon - vàng, vàng-  bạc và vàng chứa bạc. Đặc biệt trong một số mỏ vàng - bạc, vàng chứa bạc đã tính trữ lượng bạc đến cấp C1. Căn cứ vào cấp tài nguyên , trữ lượng có thể phân ra các mức điều tra của khoáng sản bạc như sau:
-   Thăm dò sơ bộ là các mỏ đã tính trữ lượng bạc tới cấp C1. Thuộc loại này bao gồm các mỏ vàng - bạc, vàng chứa bạc như Ngọc Hội (Tuyên Quang), Xà Khía (Quảng Bình), Tam Chinh, Đak Sa, Phước Hiệp (Quảng Nam). Nói chung, trữ lượng bạc ở cấp C1 có số lượng không đáng kể.
-   Tìm kiếm, đánh giá: thuộc mức độ này bao gồm một vài mỏ , các mỏ đã tính được trữ lượng đến cấp C2 và đều thuộc các mỏ vàng - bạc và vàng chứa bạc như Trảng Sim (Nghệ An), Sông Hinh (Phú Yên). Trữ lượng bạc ở cấp này cũng không đáng kể.
Một số mỏ vàng - bạc, chì - kẽm và thiếc cũng có số lượng bạc khá lớn nhưng chỉ ở mức dự báo tài nguyên cấp P
C. Hiện trạng khai thác sử dụng
   Việt Nam hiện nay chưa có công nghệ khai thác bạc, cùng với việc khai thác các loại quặng vàng, chì - kẽm, antimon,… thì một số lượng tài nguyên  nhất định của bạc cũng được khai thác theo. Tuy nhiên, do hàm lượng bạc thấp, công nghệ tuyển lạc hậu nên việc thu hồi bạc từ những loại quặng nêu trên hầu như không thực hiện được.
d.   Các loại hình quặng hoá bạc.
Đến nay, ở Việt Nam chưa phát hiện được tụ khoáng bạc thực thụ mà chỉ phát hiện bạc đi kèm trong các loại quặng khác. Có thể chia ra các kiểu quặng hoá chứa bạc sau:
-   Quặng hoá chì - kẽm chứa bạc: phát hiện ở nhiều nơi, điển hình là các mỏ, điểm quặng chì - kẽm như Tú Lệ (Yên Bái), Na Sơn (Hà Giang), Tống Tinh ( Cao Bằng), Năng Khả, Phúc Ninh, Thành Các, Thượng Ấm (Tuyên Quang), Đèo Gió, Chợ Đồn ( Bắc Kạn), Quan Sơn (Thanh Hoá). Hàm lượng bạc trong quặng từ 10g/t đến vài trăm g/t, cá biệt 3660g/t (mỏ Tú Lệ).
-   Quặng hoá vàng - bạc và vàng chứa bạc: phân bố rộng rãi trên lãnh thổ Việt Nam. Một số mỏ có hàm lượng bạc khá cao như Si Phay - Lai Châu (10-1050g/t, Ngọc Hội - Tuyên Quang (0-2492g/t), Xà Khía - Quảng Bình (123,5g/t), Phước Hiệp - Quang Nam (0-246,6g/t), An Trung - Gia Lai (0,7-250,3 g/t), … số mỏ còn lại, hàm lượng bạc thường thấp, trung bình khoảng 10g/t.
-   Quặng hoá antimon chứa bạc: các mỏ, điểm quặng antimon chứa bạc ở Làng Vài, Khuôn Phục, Cóc Táy…(Tuyên Quang), Lương Ngoại, Làng Kiên, Na Sài, …(Thanh Hoá), Tấn Mài, Đồng Mỏ, Khe Chim, Dương Huy,…(Quảng Ninh), Mậu Duệ, Bản Lò, Bó Mới, …(Hà Giang), Đại Từ (Thái Nguyên),… thường có hàm lượng bạc thấp 10-30g/l.
-   Quặng hoá thiếc chứa bạc: Thành hệ casiterit- silicat - sulfur chứa bạc chủ yếu gồm các mỏ, điểm quặng thiếc ở vùng Tam Đảo, Quỳ Hợp và Lâm Đồng. Hàm luợng bạc trong loại quặng này thấp (vài g/t đến dưới 100g/t).
-   Quặng hoá đồng - Ni ken chứa bạc có ở vùng Sơn La, Quảng Ngãi, Thanh Hoá,… thường phân bố trong các trầm tích phun trào thành phần mafic.   
e.Trữ lượng bạc
Trữ lượng, tài nguyên bạc đã được kết hợp dự báo trong một số báo cáo thăm dò, đánh giá khoáng sản chì - kẽm, vàng và một  vài mỏ thiếc, antimon. Tuy nhiên, chủ yếu là ở mức độ tài nguyên dự báo. Theo kết quả tìm kiếm, thăm dò đến thời điểm hiện nay, trữ lượng và tài nguyên bạc ở Việt Nam đã xác định như sau:
-   Trong các mỏ chì - kẽm: có 10 mỏ dự báo tài nguyên và trữ lượng vàng với tổng trữ lưượng và tài nguyên là 1880,162 tấn Ag, trong đó cấp C2=59,090 tấn (xem bảng). Tài nguyên bạc trong các mỏ chì - kẽm phân bố chủ yếu ở hai tỉnh Tuyên quang và Bắc Kạn.
-   Trong các mỏ vàng - bạc, vàng chứa bạc: đã có 26 mỏ, điểm quặng tính trữ lượng và dự báo tài nguyên bạc ở các cấp khác nhau. Tổng trữ lượng và tài nguyên bạc trong các mỏ này đạt 345,634 tấn Ag, trong đó cấp C1=5,064 tấn, C2= 126,643tấn (xem bảng…). Trữ lượng và tài nguyên bạc tập trung chủ yếu ở mỏ vàng Ngọc Hội (Tuyên Quang).
-   Trong các mỏ thiếc chứa bạc: chỉ có hai mỏ dự báo tài nguyên bạc với tổng tài nguyên là 4,899 tấn. Trong đó mỏ Làng Đông- Nghệ An là 2,448 tấn, mỏ Phu Loi là 2, 451 tấn.
-   Trong các mỏ antimon chứa bạc: chỉ có mỏ Làng Vài - Tuyên Quang dự báo tài nguyên bạc đạt 0,843 tấn.
Như vậy, tổng trữ lượng và tài nguyên bạc đi kèm trong các mỏ đã dự báo được khoảng 2000 tấn, trong đó cấp C1 khoảng 5 tấn, cấp C2 khoảng 186 tấn, qua đó cho thấy tài nguyên bạc ở Việt Nam là không đáng kể
Logged

Offlinedom

  • Newbie
  • *
  • default avatar
  • Bài viết: 43
    • Xem hồ sơ cá nhân
Re: Các loại khoáng sản, trữ lượng, hiện trạng khai thác và tiềm năng
« Reply #11 vào lúc: 03:37:52 pm , Ngày 16, Tháng Tám , năm 2009 »
  •  
IX. Platin
IX.1. Khái quát chung về quặng platin
a.   Khái quát chung
Platin, ký hiệu pt, là nguyên tố hoá học nhóm VIII hệ thông tuần hoàn Mendeleev, số thứ tự 78, khối lượng nguyên tử 195,03, hàm lượng trong vỏ quả đất chiếm n.10-7% trọng lượng. platin có thể kéo thành sợi rất mảnh, không hoà tan trong axit. Trong thiên nhiên, platin gặp ở dạng tự sinh và cũng gặp trong thành phần của một số khoáng vật. Trong platin tự sinh thường có tạp chất sắt, iridi, paladi, rodi, ruteli, đồng.
b.   Lĩnh vực sử dụng:
Platin được dùng trong công nghiệp hoá chất, kỹ thuật điện, trong sản xuất máy bay, máy móc xây dựng, công nghiệp quốc phòng, làm đồ trang sức, làm răng giả,…
c.   Các kiểu công nghiệp của mỏ platin.
Platin tập trung với quy mô công nghiệp trong các mỏ magma và trong sa khoáng. Người ta phân ra 3 kiểu mỏ platin công nghiệp.
-   Mỏ magma ni ken - đồng - sulfur chứa platin: trong kiểu mỏ này, các khoáng vật platun thường là sperilit (PtAs2) và platin chứa pladi. Hàm lượng các nguyên tố này là 0.2-0.4g/t. Hiện nay, các mỏ này là nguồn chủ yếu để lấy platin và các kim loại cùng nhóm.
-   Các mỏ magma spinelit - cromit chứa platin: các khoáng vật platin phổ biến là polixen, platin iridi, iridi osimi.
-   Các sa khoáng platin: các sa khoáng chứa platin có ý nghĩa không lớn. Do platin có tỷ trọng lớn nên nó tích tụ ở các tầng dưới của các lớp sản phẩm và ở phần đá phá huỷ của đáy sa khoáng. Sa khoáng platin hình thành trong điều kiện địa mạo thuận lợi, ở các vùng phân bố các mỏ gốc chứa platin.

IX.2.Các kiểu quặng hoá platin ở Việt Nam:
   Ở Việt Nam, đến nay đã phát hiện được các biểu hiện khoáng hoá platin có mặt trong hai kiẻu quặng hoá sau:
-   Quặng hoá niken -đồng liên quan với đá mafic - siêu mafic chứa platin: từ năm 1964 đã phát hiện sự có mặt của platin trong quặng Cu-Ni Bản Phúc, trong đó đã xác định được khoáng vật sperilit (Pt=56-58%, Pd=0.5-0.7%, As=39-43%). Theo liên đoàn  Địa chất Tây Bắc (1985-1986), tài nguyên của quặng Bản Phúc là 30 tấn với hàm lượng 0.2-1g/t.
-   Quặng hoá cromit trong đá siêu mafic chứa platin: theo tài liệu đo vẽ địa chất và tìm kiếm khoáng sản các vùng Thanh Hoá, Cao Bằng, Bắc Cạn, Thái Nguyên, Lai Châu, Sơn La, Hoà Bình, Quảng Nam, Quảng Ngãi và một loạt các khu vực ở Tây Nguyên có các biểu hiện Pt trong đá siêu mafic chứa Cromit song chưa được nghiên cứu đầy đủ.
Tóm lại: Ở Việt Nam, đã phát hiện sự có mặt của platin liên quan với quặng hoá niken - đồng, cromit phát triển trong đá siêu mafic, mafic, song đến nay chưa có công trình nghiên cứu đầy đủ để xác định triển vọng của khoáng sản này.
Logged

Offlinedom

  • Newbie
  • *
  • default avatar
  • Bài viết: 43
    • Xem hồ sơ cá nhân
Re: Các loại khoáng sản, trữ lượng, hiện trạng khai thác và tiềm năng
« Reply #12 vào lúc: 03:41:22 pm , Ngày 16, Tháng Tám , năm 2009 »
  •  
X. Khoáng sản Phóng xạ
X.1- Khái quát chung về quặng phóng xạ
a - Khái quát chung
Nguyên tố uran là nguyên tố phóng xạ chính trong vỏ trái đất hiện nay có giá trị công nghiệp chủ yếu. Trong hệ thống tuần hoàn của Mendêleev, uran có vị trí 92, nguyên tử lượng 238,07.
Uran tự nhiên gồm 3 đồng vị: U238 (99,28%); U234 (0,0051%) và U235 (0,71%). Uran phổ biến tương đối rộng rãi trong vỏ trái đất. Theo số liệu của A.P.Vinogradov, số clack của uran là 2,6.10-4%, theo một số tài liệu khác thì uran còn cao hơn (4.10-4%). Một trong những tính chất quan trọng nhất và có ý nghĩa thực tế là khả năng tự phân rã liên tiếp tạo ra các đồng vị phóng xạ và kết thúc ở một đồng vị chì bền vững.
Uran là kim loại có ánh rõ ràng, nhưng trong không khí thì bị mờ nhanh. Có màu bạc với sắc xanh phớt da trời. Trong tự nhiên, uran cùng với ôxi tạo ra bốn loại ôxit:UO - monooxit, UO2 - dioxit, U3O8 - ôxit hỗn hợp và UO3 - triôxit.
Đã phát hiện được trên 150 khoáng vật chứa uran, trong đó chỉ có khoảng từ 25 - 30 khoáng vật là có giá trị thực tế. V.G.Menkov chia các khoáng vật của uran ra 3 loại tuỳ theo hoá trị ưu thế của nguyên tố. Loại 1 gồm những khoáng vật uran chủ yếu ở dạng hoá trị 4, loại 2 gồm các khoáng vật uran trong đó uran cùng lúc ở dạng hoá trị 6 và hoá trị 4, loại 3 gồm các khoáng vật chỉ chứa uran hoá trị 6.
Các khoáng vật chủ yếu của uran: Nasturan, uraninit, cofinit, branerit, tobenit, cacnotit, autunit, metaautunit, phosfuraninit, uranoxiaxit, uranofan
   b - Lĩnh vực sử dụng
Quặng phóng xạ được sử dụng trong nhiều lĩnh vực, trong đó đáng kể nhất phải kể đến việc sử dụng urani như một nguồn năng lượng quan trọng trong vận hành nhà máy điện nguyên tử.
   Tại nhà máy điện nguyên tử hiện nay, 1 kg urani cho năng lượng tương đương với 10 tấn than. Trong các nhà máy điện nguyên tử nơtron nhanh, 1 kg urani cho năng lượng tương đương với 100 tấn than. Về nguyên tắc có thể tăng hiệu quả sử dụng 1kg urani cho năng lượng tương đương với 1000 tấn than đá.

X.2. Khoáng sản Phóng xạ Việt Nam
a- Khái quát về đặc điểm phân bố và các loại hình mỏ phóng xạ ở Việt Nam
Trên lãnh thổ Việt Nam, kết quả các công tác nghiên cứu địa chất và tìm kiếm khoáng sản nói chung và urani nói riêng đã phát hiện khoáng hoá urani ở nhiều nơi, trên các địa hình khác nhau, với các tuổi khoáng hoá từ Protezozoi đến Đệ Tứ, tức từ 1800 - 2000 triệu năm đến 25 - 30 triệu năm trở lại đây. Tuy nhiên, quặng khoáng hoá urani có triển vọng tập trung nhiều ở Trung Bộ và Tây Nguyên, Việt Bắc, Tây Bắc, ứng với các tuổi từ Mezozoi (160 - 200 triệu năm) trở lại đây (Hình 1-Sơ đồ phân bố mỏ điểm quặng)
Theo cách phân loại của Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế, các mỏ urani của Việt Nam ứng với các kiểu dưới đây:
+ Urani trong cát kết
+ Urani dạng mạch hoặc gần như mạch
+ Urani trong đá phun trào
+ Urani trong đá biến chất
+ Urani trong than
+ Urani dạng trên bề mặt
b- Mức độ điều tra
Nguyên liệu phóng xạ nói chung, urani nói riêng là một loại nguyên liệu mang tính đặc thù, chủ yếu làm nguyên liệu cho các nhà máy điện nguyên tử. Nhìn chung, tài nguyên urani của Việt Nam tương đối phong phú. Lãnh thổ Việt Nam, với những đặc điểm địa chất của nó có tiềm năng chứa urani đáng kể, đặc biệt urani trong cát kết Nông Sơn có nhiều khả năng trở thành mỏ công nghiệp. Tuy nhiên, công tác điều tra địa chất nguyên liệu phóng xạ ở Việt Nam hiện nay đang ở giai đoạn nghiên cứu phát hiện, cần phải được đầu tư nhiều hơn để thăm dò nâng cấp trữ lượng và nghiên cứu  tính khả thi về kinh tế.
Công tác điều tra nghiên cứu về urani chỉ thực sự được tiến hành sau năm 1975, nhất là sau năm 1980 công tác này được đẩy mạnh với việc phát hiện một số điểm khoáng hoá urani ở Tiên An, khu mỏ than Nông Sơn và đặc biệt là phát hiện loại hình urani trong cát kết vùng trũng Nông Sơn. Tuy nhiên về mức độ điều tra còn sơ sài, so với các loại hình khoáng sản khác như than đá, chì - kẽm, sắt, vàng... mức độ đầu tư còn ít về vốn, số các công trình nghiên cứu cũng như các công trình sâu (khối lượng khoan máy từ năm 1983 đến nay khoảng 20.000 m) với khoáng sản urani mới chỉ thăm dò 1 khu với diện tích khoảng 0,5 km2 ở Bình Đường. Song ở đây số lượng công trình khoan cũng hạn chế, còn các diện tích khác chỉ mới dừng ở mức đánh giá tỷ lệ 1:5.000 - 1:2.000 (đề án đánh giá urani khu Khe Hoa - Khe Cao, Pà Lừa, Pà Rồng, An Điềm, Đông Nam - Bến Giằng...) hoặc được đánh giá đi kèm trong các đề án điều tra, đánh giá và thăm dò khoáng sản khác (đề án thăm dò đất hiếm Nậm Xe, điều tra, đánh giá đất hiếm Mường Hum...)  ....
Logged

Offlinechudangdich_kta51 Nam

  • Newbie
  • *
  • Bài viết: 1
  • chu dang dich
    • Xem hồ sơ cá nhân
Re: Các loại khoáng sản, trữ lượng, hiện trạng khai thác và tiềm năng
« Reply #13 vào lúc: 01:44:57 am , Ngày 26, Tháng Ba , năm 2010 »
  •  
rat hay
Logged

Offlineranypizzy

  • Newbie
  • *
  • default avatar
  • Bài viết: 1
    • Xem hồ sơ cá nhân
Re: Các loại khoáng sản, trữ lượng, hiện trạng khai thác và tiềm năng
« Reply #14 vào lúc: 10:03:56 am , Ngày 06, Tháng Mười Hai , năm 2012 »
  •  
Ai có số liệu mới nhất về trữ lượng khoảng sản antimon và chì ở Việt Nam và tình hình khai thác cho mình xin với. Cảm ơn nhiều nhé!
Logged
Trang: [1]   Lên
« Trước Tiếp »
 

Copyright ©2009 [HUMG.NET] Contact: admin(at)humg.net